|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 25/7/2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: . Bà Nguyễn Tuyết Mai.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tính.
Ông Nguyễn Văn Nam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2024/TLPT-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 12/2024/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 40/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1968; Địa chỉ: Xóm C, khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt;
- - Bị đơn: Bà Đồng Thị T, sinh năm 1976; Địa chỉ: Xóm C, khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt;
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn N trình bày: Ông và bà Đồng Thị T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2013, có tổ chức đám cưới nhưng đến ngày 10/7/2018 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã T (nay là phường T), thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do gia đình bà T không tôn trọng ông, vì vậy vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Ông xác nhận hiện nay vợ chồng ông vẫn sống chung nhà, ăn chung, ông vẫn còn tình cảm với bà T, nhưng không còn tình cảm với gia đình bà T. Vì thế, ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà Đồng Thị T.
Con chung: Ông bà có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 03/8/2014 và cháu Nguyễn Thị V, sinh ngày 24/01/2017. Hiện tại các con đang ở cùng ông, bà. Khi ly hôn, ông có nguyện vọng được nuôi 02 con, không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con. Ông N đang làm kinh doanh tự do, thu nhập khoảng 10.000.000 đồng/tháng.
Tài sản chung, công nợ: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Đồng Thị T trình bày: Bà T công nhận lời trình bày của ông N về thời điểm kết hôn, tình trạng hôn nhân là đúng. Bà thừa nhận vẫn còn tình cảm với ông N và mong muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con. Giữa bà và ông N không có mâu thuẫn gì. Hai vợ chồng vẫn đang sinh sống cùng nhau trong một gia đình. Vì vậy, bà T không đồng ý ly hôn. Bà đề nghị Tòa án bác yêu cầu xin ly hôn của ông N.
Về con chung như ông N trình bày là đúng. Trường hợp ly hôn, bà đề nghị được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn T1 và ông N nuôi cháu Nguyễn Thị V. Cấp dưỡng nuôi con chung bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Với nội dung trên, tại bản án sơ thẩm số: 12/2024/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 05 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Từ Sơn đã căn cứ các khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều Điều 8, 9, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn N với bà Đồng Thị T. Ông N và bà T vẫn còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng với nhau.
Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Do không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông N nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 09/5/2024, ông Nguyễn Văn N kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm cho ông được ly hôn bà T.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, ông N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ông Nguyễn Văn N và bà Đồng Thị T thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đảm bảo thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử: Sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
- - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Văn N và bà Đồng Thị T.
- - Con chung: Giao cho ông Nguyễn Văn N nuôi cháu Nguyễn Thị V, sinh ngày 24/01/2017 và giao cho bà Đồng Thị T nuôi cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 03/8/2014 kể từ tháng 8/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi về việc nuôi con. Cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết.
- - Tài sản chung, nợ chung, công sức: Không yêu cầu giải quyết.
- - Án phí: Ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông N trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Năm 2013, ông Nguyễn Văn N và bà Đồng Thị T chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới. Đến ngày 10/7/2018 thì ông N, bà T đăng ký kết hôn tại UBND xã T (nay là phường T), thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
-
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn N thì thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Văn N và bà Đồng Thị T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án công nhận việc thuận tình ly hôn cũng như thỏa thuận về con chung, tài sản.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận. Do đó, cần công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Văn N và bà Đồng Thị T.
- - Con chung: Giao cho ông Nguyễn Văn N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị V, sinh ngày 24/01/2017 và giao cho bà Đồng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 03/8/2014, kể từ tháng 8/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi về việc nuôi con. Cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết.
- - Tài sản chung, nợ chung, công sức: Không yêu cầu giải quyết.
- Ông Nguyễn Văn N đồng ý cho bà Đồng Thị T ở lại nhà đất của ông N tại xóm C, khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian 05 (năm) năm kể từ ngày 25/7/2024 để tạo lập nơi ở mới.
-
Án phí: Ông Nguyễn Văn N tự nguyện chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Do sửa bản án sơ thẩm nên ông Nguyễn Văn N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn N.
-
Sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của ông Nguyễn Văn N và bà Đồng Thị T như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Văn N và bà Đồng Thị T.
- - Con chung: Giao cho ông Nguyễn Văn N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị V, sinh ngày 24/01/2017 và giao cho bà Đồng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 03/8/2014, kể từ tháng 8/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi về việc nuôi con. Cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết.
- Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- - Tài sản chung, nợ chung, công sức: Không giải quyết.
-
Án phí: Ông Nguyễn Văn N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0003663 ngày 07/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Hoàn trả ông Nguyễn Văn N 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số 003737 ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tuyết Mai |
Bản án số 26/2024/HNGĐ-PT ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hôn nhân và gia đình
