TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/DS-ST
Ngày: 25/7/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt; Bà Vũ Thị Mai
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 29/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng N.
Địa chỉ trụ sở chính: Số B, đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Ngân hàng N – Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II do ông Nguyễn Trường G – Giám đốc được ủy quyền đại diện khởi kiện (Theo Quyết định ủy quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01 tháng 12 năm 2022).
Người nhận ủy quyền lại: Ông Phạm Văn D – Trưởng phòng kế hoạch kinh doanh Ngân hàng N – Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II (Theo giấy uỷ quyền số 40/UQ-NHNo.BGII-LNg ngày 17/01/2023)
* Bị đơn: Ông Vy Văn Đ (tên gọi khác: Vi Văn Đ1), sinh năm 1984 và bà Vi Thị C, sinh năm 1987 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Đều địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Vi Thị P, sinh ngày 23/3/2007 và chị Vi Thị H, sinh ngày 25/10/2008 (Chị Vi Thị P và chị Vi Thị H đều uỷ quyền cho ông Vi Văn Đ1 tham gia tố tụng)
Đều địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. ( Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 18/10/2023, bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng N do Ngân hàng N – Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II (sau đây viết tắt là Ngân hàng) đại diện khởi kiện trình bày:
Ngày 28/04/2021 ông Vy Văn Đ có gửi đề nghị vay vốn đến A - Chi nhánh huyện L với mục đích vay: Đầu tư làm vườn. Sau khi xem xét thẩm định, A - Chi nhánh huyện L đã phê duyệt số tiền cho vay là: 200.000.000 đồng tại hợp đồng tín dụng số: 2504LAV202101616 ngày 28/04/2021.
- Phương thức cho vay theo hạn mức; Mục đích sử dụng vốn vay: Chi phí hoạt động kinh doanh, phục vụ nhu cầu đời sống; Thời gian duy trì hạn mức: 03 năm kể từ ngày ký hợp đồng.
- Lãi xuất cho vay: Lãi xuất cho vay ngắn hạn: 9,6% trên số dư nợ gốc. Lãi xuất cho vay trung hạn: 10,8% trên số dư nợ gốc.
- Lãi xuất quá hạn bằng 150% lãi xuất cho vay trong hạn.
- Lãi chậm trả bằng 10% trên số tiền lãi chậm trả.
- Việc cho vay không có tài sản bảo đảm.
- Ngày 29/04/2021 A đã giải ngân số tiền: 160.000.000 đồng, kỳ hạn trả nợ:
- + Ngày 28/04/2022 trả gốc: 80.000.000 đồng.
- + Ngày 28/04/2023 trả gốc: 80.000.000 đồng.
- Ngày 28/04/2022 ông Vy Văn Đ không trả được nợ cho ngân hàng.
- Ngày 29/04/2022 A - Chi nhánh huyện L đã chuyển sang nợ quá hạn, số tiền gốc: 160.000.000 đồng và toàn bộ số lãi phát sinh kèm theo. Qua nhiều lần đôn đốc nhắc nhở đến nay ông Vy Văn Đ vẫn chưa trả nợ cho ngân hàng.
Tính đến ngày 17/10/2023, tổng nợ của ông Vy Văn Đ, tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) tại A - Chi nhánh huyện L là: 198.658.112 đồng (Một trăm chín tám triệu sáu trăm năm tám nghìn một trăm mười hai đồng), gồm:
Nợ gốc: 160.000.000 đồng.
Nợ lãi trong hạn: 30.447.205 đồng.
Nợ lãi quá hạn: 8.210.907 đồng.
- Đến nay do ông Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi nên Ngân hàng đề nghị Toà án buộc ông Vy Văn Đ (tên gọi khác: Vi Văn Đ1) và bà Vi Thị C phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A toàn bộ số tiền theo hợp đồng tín dụng số 2504LAV202101616 ký ngày 28/04/2021 số tiền nợ tạm tính đến ngày 25/07/2024 là 218.000548 đồng (Hai trăm mười tám triệu năm trăm bốn tám đồng), gồm:
Nợ gốc: 160.000.000 đồng.
Nợ lãi trong hạn: 43.224.548 đồng.
Nợ lãi quá hạn: 14.476.000 đồng.
- Buộc ông Vy Văn Đ (tên gọi khác: Vi Văn Đ1) và bà Vi Thị C phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất hợp đồng tín dụng số 2504LAV202101616 ngày 28/4/2021 kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án hoặc quyết định cho đến ngày thực tế ông Vy Văn Đ (tên gọi khác: Vi Văn Đ1) và bà Vi Thị C trả hết nợ gốc cho A.
- Ngân hàng xác định đối với cháu Vi Thị P, sinh ngày 23/3/2007 và cháu Vi Thị H, sinh ngày 25/10/2008, đều địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang là con của chị Vi Thị C và anh Vy Văn Đ đều không liên quan gì đến khoản vay giữa Ngân hàng đối với của chị Vi Thị C và anh Vy Văn Đ vì khi vay các cháu còn nhỏ, đang đi học. Do đó, Ngân hàng không có yêu cầu đề nghị gì đối với cháu Vi Thị P và cháu Vi Thị H.
* Tại Biên bản lấy lời khai, ông Vy Văn Đ (tên gọi khác: Vi Văn Đ1) và bà Vi Thị C đều trình bày:
Ngày 28/4/2021, gia đình ông, bà cần tiền để làm vườn chăn nuôi nên gia đình ông, bà có đến Ngân hàng A – Chi nhánh L để vay vốn cụ thể:
- Ngày 28/4/2021, gia đình ông, bà có vay Ngân hàng A số tiền 160.000.000 đồng, mục đích vay: để đầu tư làm vườn và nhu cầu sinh hoạt đời sống, thời hạn trả nợ:
- + Ngày 28/04/2022 trả gốc: 80.000.000 đồng.
- + Ngày 28/04/2023 trả gốc: 80.000.000 đồng.
Tuy nhiên, đến thời hạn trả nợ do điều kiện kinh tế khó khăn và dịch bệnh kéo dài nên gia đình ông, bà chưa trả được cho Ngân hàng khoản nợ gốc và lãi nào. Khi vay hai bên có thoả thuận về lãi trong hạn và lãi quá hạn tuy nhiên do thời gian vay lâu nên ông, bà không nhớ rõ nhưng theo hợp đồng tín dụng số 2504LAV202101616 ngày 28/4/2021 là đúng. Ông, bà xác nhận việc ông, bà và Ngân hàng ký hợp đồng tín dụng là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và ông, bà cũng đã nhận đủ số tiền 160.000.000 đồng.
Đến nay Ngân hàng khởi kiện đề nghị ông, bà trả Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc 160.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng, ông, bà có ý kiến như sau: Do điều kiện kinh tế khó khăn, các con còn nhỏ đang đi học nên ông, bà mong Ngân hàng tạo điều kiện chờ ông, bà bán vườn sẽ trả cho Ngân hàng hết nợ. Ông, bà xác định khi vay các con còn nhỏ nên không liên quan gì đến việc vay. Ông, bà cũng xác định khi vay không có thế chấp tài sản gì, ông, bà hoàn toàn đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Do ông, bà có công việc bận cũng như phải đi làm để lấy tiền nuôi các con nên xin vắng mặt tại các buổi làm việc tại Toà án, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải cũng như các phiên toà xét xử vụ án trên.
Người có quyền lợi liên quan cháu Vi Thị P và cháu Vi Thị H trình bày:
Cháu là con của bố Vi Văn Đ1 và mẹ Vi Thị C, cháu hiện tại vẫn đang đi học. Đối với việc vay Ngân hàng số tiền 160.000.000 đồng tiền gốc của bố mẹ cháu thì cháu hoàn toàn không biết việc vay vì khi đó cháu vẫn còn đi học, gần đây cháu được Toà án thông báo thì cháu với biết. Cháu xác định cháu không liên quan gì đến việc vay mượn của bố mẹ cháu với Ngân hàng cháu đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do cháu còn đi học nên cháu uỷ quyền cho bố cháu là Vi Văn Đ1, sinh năm 1984, địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang tham gia tố tụng.
* Tại phiên tòa:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phạm Văn D trình bày: Tính đến ngày xét xử ngày 25/7/2024 thì ông Vy Văn Đ và bà Vi Thị C còn nợ ngân hàng tổng số tiền là 218.000.548 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 160.000.000 đồng, nợ lãi 58.000.548 đồng. Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc ông Vy Văn Đ và bà Vi Thị C thực hiện nghĩa vụ trả nợ và lãi theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đến khi thực tế thanh toán hết nợ.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố lời trình bày của những người này và những tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 72, Điều 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các Điều 30, Điều 35, Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 317, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470, Điều 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N: Buộc ông Vy Văn Đ (tên gọi khác: Vi Văn Đ1) và bà Vi Thị C có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N tổng số tiền là 218.000.548 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 160.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 43.224.548 đồng, nợ lãi quá hạn: 14.776.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
2. Về án phí: Ông Vy Văn Đ (tên gọi khác: Vi Văn Đ1) và bà Vi Thị C phải chịu 10.900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.000.000 đồng tại Biên lai thu số 0006013 ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng N do Ngân hàng N – Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II đại diện khởi kiện buộc ông Vy Văn Đ và bà Vi Thị C phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ như thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Bị đơn ông Vy Văn Đ và bà Vi Thị C có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố H, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn ông Vy Văn Đ và bà Vi Thị C vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cháu Vi Thị P và Vi Thị H đã uỷ quyền cho ông Vy Văn Đ tham gia tố tụng. Do đó căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Vy Văn Đ, bà Vi Thị C, Vi Thị P và Vi Thị H theo thủ tục chung.
[3] Về áp dụng pháp luật nội dung: Giao dịch dân sự giữa ông Vy Văn Đ và Ngân hàng được xác lập vào thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 đang có hiệu lực thi hành. Do vậy áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy: Ngân hàng N do Ngân hàng N – Chi nhánh huyện L, Bắc Giang II đại diện khởi kiện ông Vy Văn Đ do ông đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng theo nội dung thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng đã giao kết. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên xác lập một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, tuân thủ tuân thủ đúng các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức hợp đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, Điều 117, Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử thấy Hợp đồng tín dụng được lập giữa ông Vy Văn Đ và Ngân hàng là hợp pháp nên phát sinh hiệu lực thi hành giữa các bên.
[5] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký thì thấy: Quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 28/04/2021 ông Vi Văn Đ1 đã ký kết hợp đồng tín dụng số504LAV202101616, quá trình thực hiện hợp đồng ông Vy Văn Đ đã vi phạm về nghĩa vụ thanh toán khi đến định kỳ hạn trả nợ (ngày 28/4/2022). Quá trình làm việc tại Toà án ông Vi Văn Đ1 cũng thừa nhận do điều kiện kinh tế khó khăn nên ông chưa thanh toán được nợ gốc và nợ lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, ông Vy Văn Đ chưa thanh toán được nợ gốc 160.000.000 đồng cho Ngân hàng, ông Đ đã vi phạm Điều 5, Điều 7 của hợp đồng tín dụng đã ký kết. Hội đồng xét xử thấy ông Vy Văn Đ đã vi phạm về nghĩa vụ trả nợ nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Cần buộc ông Vy Văn Đ phải có trách nhiệm trả cho ngân hàng tiền gốc và lãi phát sinh tính đến ngày xét xử ngày 25/7/2024 thì ông Vy Văn Đ còn nợ ngân hàng tổng số tiền là 218.000.548 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 160.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 43.224.548 đồng, nợ lãi quá hạn: 14.776.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 504LAV202101616 ký ngày 28/04/2021 và tiền lãi tiếp theo, theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi trả xong nợ gốc phù hợp với quy định tại Điều 30, 35, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng.
[6] Về nghĩa vụ liên đới trả nợ: Tại hợp đồng tín dụng số 2504LAV202101616 ngày 28/4/2021 xác định mục đích vay là đầu tư làm vườn và phục vụ nhu cầu đời sống; bên vay gồm ông Vy Văn Đ và bà Vi Thị C có ký trong giấy ủy quyền ngày 28/4/2021. Tại Giấy ủy quyền ngày 28/4/2021, bà Vi Thị C đã ủy quyền cho ông Vy Văn Đ thực hiện các giao dịch liên quan đến việc vay vốn như: Thương thảo và ký kết hợp đồng tín dụng, nhận tiền vay, thực hiện các công việc liên quan đến xử lý nợ nên căn cứ vào Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình bà C có nghĩa vụ liên đới cùng ông Đ thanh toán nợ cho Ngân hàng. Còn đối với các con của ông Vy Văn Đ và bà Vi Thị C thì nguyên đơn, bị đơn và các con của ông Đ, bà C đều khai và thừa nhận không liên quan gì đến việc vay tiền. Do đó, các con của ông Đ, bà C không có nghĩa vụ liên đới trả nợ cùng với bố mẹ.
[8] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 30, Điều 35, Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 317, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470, Điều 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 167, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N: Buộc ông Vy Văn Đ (tên gọi khác: Vi Văn Đ1) và bà Vi Thị C có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N đến ngày 25/07/2024 tổng số tiền là 218.000.548 đồng ( Hai trăm mười tám triệu năm trăm bốn tám đồng), trong đó: số tiền nợ gốc là 160.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 43.224.548 đồng, nợ lãi quá hạn: 14.776.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng số 504LAV202101616 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
2. Về án phí: Ông Vy Văn Đ (tên gọi khác: Vi Văn Đ1) và bà Vi Thị C phải chịu 10.900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.000.000 đồng tại Biên lai thu số 0006013 ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thu Hà |
Bản án số 26/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 26/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: C và Đ với Agribank tranh chấp hợp đồng tín dụng
