|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST Ngày 25 - 4 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Dương
- Ông Bùi Quốc Kiên
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Vân Ánh - Là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Lâm Ngọc A - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 04 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 204/2023/TLST-HNGĐ ngày 06/11/2023 về việc: “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 41/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 04 năm 2024 của TAND thị xã Nghi Sơn giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Cao Ngọc T - Sinh năm 1973
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D - Sinh năm 1974
Cùng nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Ông T và bà D đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Cao Ngọc T trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị D tự nguyện xây dựng gia đình từ năm 1992, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thị xã N nhưng do ông bà làm mất giấy đăng ký kết hôn, nên đến ngày 30/8/2022 ông bà đã đến đăng ký kết hôn lại tại UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống, ông bà phát sinh mâu thuẫn từ khoảng năm 2019, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tin tưởng nhau, ngoài ra còn mâu thuẫn kinh tế. Vợ chồng đã ly thân được khoảng 03 năm nay, mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Nay ông xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị D.
Về con chung: Ông bà có hai con chung là Cao Thu H, sinh ngày 02/04/1994 và Cao Ngọc A1 sinh ngày 11/08/1999. Nay các con đã thành niên và có khả năng lao động.
Về tài sản và công nợ: Ông T không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị D trình bày như sau:
Về hôn nhân: Bà và ông Cao Ngọc T xây dựng gia đình từ năm 1992 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới hỏi và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T là phường H thị xã N. Tuy nhiên, do ông bà làm mất giấy đăng ký kết hôn nên đến ngày 30/8/2022 ông bà đã đến đăng ký kết hôn lại tại UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống, ông bà chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, ông T không chung thủy trong tình cảm vợ chồng, bà không còn tin tưởng ông T. Vợ chồng xảy ra cãi nhau. Tuy nhiên, bà không đồng ý ly hôn vì bà nghĩ xấu hổ với con với cháu. Mặt khác, bà yêu cầu ông T phải tặng cho toàn bộ tài sản của vợ chồng cho các con thì bà mới đồng ý ly hôn. (Tài sản gồm: Đất đai và nhà cửa hiện tại vợ chồng đang ở, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông T và một mảnh đất khác chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nếu ông T làm thủ tục tặng cho con toàn bộ tài sản trên thì bà mới đồng ý ly hôn với ông T).
Về con chung: Ông bà có hai con chung là Cao Thu H, sinh ngày 02/04/1994 và Cao Ngọc A1 sinh ngày 11/08/1999. Nay các con đã thành niên và có khả năng lao động.
Về tài sản và công nợ: Bà D không yêu cầu tòa án giải quyết chia tài sản công nợ.
Kết quả xác minh tại địa phương: Ông T và bà D có nhà ở tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Hiện bà D sinh sống ở địa phương nhưng thường đi làm công ty cả ngày tối mới về; còn ông T ít có mặt tại địa phương. Về mâu thuẫn vợ chồng: Ông bà không báo cáo với chính quyền địa phương nên chính quyền địa phương không nắm được.
Tại phiên tòa, ông T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho ông ly hôn bà D. Bà D giữ nguyên quan điểm không đồng ý ly hôn.
Đại diện VKS phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Quá trình thiết lập hồ sơ vụ án, Thẩm phán, HĐXX và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định tại điều 48,49,51 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại điều 70,71,72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ các Điều 51,56,57 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, cho ông T ly hôn bà D; về con chung: ông bà có 02 con chung nhưng đều đã thành niên và có khả năng lao động nên HĐXX không xem xét về nuôi dưỡng. Về tài sản và công nợ: Ông bà đều không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét. Về án phí: Ông T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Xét yêu cầu của ông Cao Ngọc T:
- Về hôn nhân:
Ông T và bà D xây dựng gia đình từ năm 1992, do giấy đăng ký kết hôn bị thất lạc nên ông bà đã đăng ký kết hôn lại vào ngày 30/8/2022 tại UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Như vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, ông bà đều thừa nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do không hợp nhau, không tin tưởng nhau.
Mặc dù bà D không đồng ý ly hôn, nhưng thực tế ông bà đều thừa nhận vợ chồng không còn tình cảm, đã không còn chung sống với nhau thời gian dài, ly thân được khoảng 03 năm nay, không quan tâm chăm sóc đến nhau. Bà D không đồng ý ly hôn và đưa ra yêu cầu: Nếu ông T chịu tặng cho toàn bộ tài sản chung vợ chồng cho các con thì bà mới đồng ý ly hôn, chứng tỏ bà D không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân với ông T, mà bà chỉ nhằm mục đích mong muốn ông T phải giao tài sản cho các con.
Như vậy chứng tỏ hôn nhân giữa ông T và bà D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy việc ông T yêu cầu ly hôn bà D là có cơ sở, phù hợp với quy định tại các Điều 51,56 của Luật hôn nhân gia đình nên được chấp nhận.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Cao Thu H, sinh ngày 02/04/1994 và Cao Ngọc A1 sinh ngày 11/08/1999. Nay các con đã thành niên và có khả năng lao động nên hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản và công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Dành quyền khởi kiện cho bà Nguyễn Thị D về việc yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong vụ án khác nếu có yêu cầu.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Tiểu mục 1.1, Mục 1, Phần II Danh mục án phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cao Ngọc T.
- - Về hôn nhân: Cho ông Cao Ngọc T ly hôn bà Nguyễn Thị D.
- - Về con chung: Ông bà có 02 con chung là Cao Thu H, sinh ngày 02/04/1994 và Cao Ngọc A1 sinh ngày 11/08/1999. Nay các con đều đã thành niên và có khả năng lao động nên hội đồng xét xử không xem xét.
- - Về tài sản và công nợ: Ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho bà Nguyễn Thị D về việc yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong vụ án khác nếu có yêu cầu.
- - Về án phí: Ông T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ ông đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/00012631 ngày 01/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn. Ông T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt các đương sự. Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Huyền |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Văn Dương |
HỘI THẨM NHÂN DÂN Bùi Quốc Kiên |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Huyền |
Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông T và bà D xây dựng gia đình từ năm 1992, do giấy đăng ký kết hôn bị thất lạc nên ông bà đã đăng ký kết hôn lại vào ngày 30/8/2022 tại UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Như vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, ông bà đều thừa nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do không hợp nhau, không tin tưởng nhau. Mặc dù bà D không đồng ý ly hôn, nhưng thực tế ông bà đều thừa nhận vợ chồng không còn tình cảm, đã không còn chung sống với nhau thời gian dài, ly thân được khoảng 03 năm nay, không quan tâm chăm sóc đến nhau. Bà D không đồng ý ly hôn và đưa ra yêu cầu: Nếu ông T chịu tặng cho toàn bộ tài sản chung vợ chồng cho các con thì bà mới đồng ý ly hôn, chứng tỏ bà D không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân với ông T, mà bà chỉ nhằm mục đích mong muốn ông T phải giao tài sản cho các con.
