Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHÀ BÈ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 26/2024/HS-ST

Ngày: 25/4/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lâm Thị Thu;
  2. Ông Phạm Minh Tâm.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chí Đông - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Đào Minh Nguyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/HSST ngày 01/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn K; giới tính: Nam; sinh ngày 30/8/1991, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Số A, tổ A, khu phố F, thị trấn N, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: Số 1886/75/31, tổ A, khu phố F, thị trấn N, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh; học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn H, sinh năm 1964 (đã chết) và bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1969; anh, chị, em ruột: Không; vợ: Huỳnh Thị P, sinh năm 1989; con: Có 02 người con, sinh năm 2015 và sinh năm 2018; tiền án: Không;

Tiền sự: Có 03 tiền sự. Ngày 06/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố H ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 41/QĐ-TA, đến ngày 16/9/2017 chấp hành xong Quyết định; Ngày 28/01/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 21 tháng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 15/QĐ-TA, đến ngày 22/6/2020, chấp hành xong Quyết định; Ngày 05/11/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 23 tháng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 132/QĐ-TA, đến ngày 24/10/2023 chấp hành xong Quyết định.

Bị cáo Trần Văn K bị tạm giam từ ngày 22/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam C (T30) - Công an Thành phố H - Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Trần Thanh K2, sinh năm: 1989.

Địa chỉ: 4 D, Tổ A, Khu phố D, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Huỳnh Thị P, sinh năm: 1989.

Địa chỉ: 1, Tổ A, Khu phố F, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

2. Ông Trần Nhứt L, sinh năm: 1962.

Địa chỉ: 2 N, Phường G, Thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 17/12/2023, Trần Văn K đang ở nhà số A, tổ A, khu phố F, thị trấn N, huyện N thì có người bạn là Phan Minh Phương T gọi điện thoại hẹn xuống nhà K chơi, K đồng ý. Đến khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, T điều khiển xe môtô biển số 59X3-785.02 chở theo một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch - là bạn của T) đến nhà của K. Trong lúc nói chuyện, T rủ K đi trộm cắp xe môtô của người dân đem bán lấy tiền tiêu xài thì K đồng ý. Lúc này, T điều khiển xe môtô biển số 59X3-785.02 chở bạn của T ngồi giữa, K ngồi sau và chạy ra đường H, thị trấn N để tìm xe môtô trộm cắp. Vì K sinh sống ở thị trấn N nên biết buổi trưa các con hẻm thuộc thị trấn N vắng người nên K chỉ đường cho T chở đi để tìm tài sản nhằm tránh bị phát hiện. Khi đến đường N, cả nhóm nhìn thấy cách đó khoảng 10m có nhiều xe môtô các loại đang đậu trên vỉa hè phía trước bãi đất trống, có nhà dân đang tổ chức tiệc ăn uống nên bạn của T nói T quay xe lại và đậu gần các xe môtô này. Sau khi quan sát thấy không có người trông coi, K và T đứng cảnh giới cho bạn của T đến gần xe môtô biển số 83P4-402.02 của anh Trần Thanh K2 đang đậu sát cây cột điện (trên móc treo đồ xe có móc 01 nón bảo hiểm màu đen). Bạn của T lấy từ trong túi quần ra một vật (chưa xác định vật gì) và dùng vật này để bẻ phá ổ khóa của xe. Bẻ ổ khóa xong, bạn của T giấu vật này trong túi quần rồi đi đến chỗ K, T đang đứng và nói với K “bẻ khóa xong rồi, vô lấy đi”. Nghe vậy, K đi lại chiếc xe môtô biển số 83P4 - 402.02, dắt chiếc xe trên lùi về sau rồi leo lên đề nổ máy và chạy thoát ra đường H; T chở theo bạn của T chạy theo sau. Sau đó, cả ba chạy theo hướng cầu P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh qua thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do T dẫn đường đi. Trên đường đi, T điện thoại để hẹn bán xe môtô biển số 83P4-402.02 vừa trộm được. T dẫn đường cho K chạy đến trước tiệm M, số C, đường V, phường B, thành phố T thì cả nhóm gặp một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) đang đứng đợi. T nói K bán chiếc xe môtô biển số 83P4-402.02 cho người phụ nữ trên với giá 7.000.000 đồng; T đưa K giữ 2.500.000 đồng, còn lại 4.500.000 đồng đưa cho T. Chia tiền xong, T đặt xe Grab bike để chở K về nhà vì K không đem theo điện thoại. Về đến nhà, K đưa cho vợ là chị Huỳnh Thị P 2.500.000 đồng, K không nói cho chị P biết số tiền trên từ đâu mà có. Sau đó, K đi tắm và mang quần, áo, nón kết và đôi dép kẹp mà K sử dụng khi đi trộm cắp bỏ vào thùng rác gần nhà nhằm tránh bị phát hiện. Bị mất trộm tài sản, anh Trần Thanh K2 đến trụ sở Công an thị trấn N, huyện N trình báo. Nhận được tin báo qua điều tra truy xét, đến ngày 22/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trần Văn K về tội “Trộm cắp tài sản”. Riêng Phan Minh Phương T và bạn của T đã bỏ trốn chưa làm việc được. Lời khai của Trần Văn K phù hợp với lời khai người bị hại, người liên quan và vật chứng thu giữ (BL: 64-68, 119-164).

Kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐGTTHS ngày 21/12/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N (BL 25), kết luận: 01 chiếc xe môtô, nhãn hiệu Honda, loại Vario 125, biển số 83P4-402.02, màu xanh đen, mua mới vào khoảng tháng 01/2023, tình trạng đã qua sử dụng, được định giá là 33.800.000đ.

Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTTHS ngày 02/02/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N (BL 23), kết luận: 01 chiếc nón bảo hiểm, màu đen, được mua mới vào tháng 4/2022, tình trạng đã qua sử dụng. Do tài sản trên không rõ nhãn hiệu, không có hóa đơn chứng từ, đồng thời tình trạng đã qua sử dụng nên Hội đồng không thể định giá.

Xe môtô biển số 59X3-785.02 do chị Châu Thị Thanh H1 đứng tên đăng ký. Hiện chị H1 không có mặt tại địa phương nơi cư trú.

Vật chứng của vụ án:

  • 01 chiếc USB bằng kim loại, loại 16GB, bên trong chứa hình ảnh Trần Văn K và đồng phạm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Lưu hồ sơ vụ án.
  • Chị Huỳnh Thị P tự nguyện giao nộp số tiền 2.500.000đ. Đây là số tiền do Trần Văn K có được từ việc bán xe môtô biển số 83P4-402.02 và đưa cho chị P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã chuyển số tiền trên đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè để chờ xét xử.
  • Bị hại anh Trần Thanh K2 giao nộp: 01 giấy đăng ký xe môtô biển số 83P4-402.02 và 01 chìa khóa của xe môtô biển số 83P4-402.02. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại những tài sản trên cho anh Trần Thanh K2 là chủ sở hữu hợp pháp (BL 195).
  • Chị Huỳnh Thị P tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A55, màu đen. Quá trình điều tra xác định: Chiếc điện thoại di động trên là của chị Huỳnh Thị P, vào ngày 17/12/2024 khi chị P đi làm thì để chiếc điện thoại trên ở nhà nên Trần Văn K đã tự ý sử dụng để điện thoại cho Phan Minh Phương T chỉ đường cho T xuống nhà K chơi. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trao trả lại chiếc điện thoại di động trên cho chị Huỳnh Thị P là chủ sở hữu hợp pháp (BL 196).

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Thanh K2 yêu cầu Trần Văn K bồi thường số tiền 20.000.000đ.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản cáo trạng số: 18/CT-VKS-NB ngày 26/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè đã truy tố bị cáo Trần Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Văn K từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Về xử lý vật chứng:
    • Đề nghị tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 chiếc USB bằng kim loại, loại 16GB, bên trong chứa hình ảnh Trần Văn K và đồng phạm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
    • Chị Huỳnh Thị P tự nguyện giao nộp số tiền 2.500.000đ. Đây là số tiền do Trần Văn K thu lợi từ việc trộm cắp tài sản của anh Trần Thanh K2 mà có và đưa cho chị Huỳnh Thị P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã nộp số tiền trên vào Kho bạc nhà nước huyện N, theo Lệnh thanh toán số 79204011 ngày 13/3/2024 – Ngân hàng N Chi nhánh N1 - Thành phố Hồ Chí Minh chờ xét xử, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị hại.
    • Về dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 20.000.000 đồng. Do chị Huỳnh Thị P tự nguyện nộp lại số tiền 2.500.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 17.500.000 đồng.

Bị cáo khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Vào khoảng 13 giờ ngày 17/12/2023, tại trước bãi đất trống (trên vỉa hè), đường N, khu phố G, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Văn K và đồng phạm đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là: 01 chiếc xe môtô, nhãn hiệu Honda, loại Vario 125, biển số 83P4-402.02, màu xanh đen và 01 chiếc nón bảo hiểm, màu đen của anh Trần Thanh K2. Theo kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐGTTHS ngày 21/12/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N, giá trị giá xe môtô là 33.800.000đ. Do đó, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè truy tố là đúng người, đúng tội.

Bị cáo phạm tội là do lỗi cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật và gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, để có tiền tiêu xài cá nhân đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Do đó, cần phải được xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Trần Văn K có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Trong bản tự khai và tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có nguồn thu nhập ổn định, hiện đang bị tạm giam, do đó Hội đồng xét xử xem xét không buộc bị cáo phải chịu phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Đối với Phan Minh Phương T là người rủ Trần Văn K đi trộm cắp tài sản và chị Châu Thị Thanh H1 là người đứng tên đăng ký chiếc chiếc xe môtô biển số 59X-785.02 hiện không có mặt tại địa phương; Bạn của T (người cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản) và người phụ nữ đã mua chiếc xe môtô biển số 83P4-402.02 không rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

[6] Đối với chị Huỳnh Thị P là người nhận số tiền 2.500.000 đồng do Trần Văn K đưa, nhưng chị P không biết số tiền trên là do Trần Văn K thu lợi từ hành vi trộm cắp mà có. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không đề nghị xử lý đối với chị Huỳnh Thị P là có cơ sở.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • 01 (một) chiếc USB bằng kim loại, loại 16GB, bên trong chứa hình ảnh Trần Văn K và đồng phạm trộm cắp tài sản, do đó tiếp tục được lưu trữ trong hồ sơ vụ án;
  • Số tiền 2.500.000 đồng chị Huỳnh Thị P tự nguyện nộp lại là do Trần Văn K được hưởng lợi từ việc trộm cắp tài sản mà có và đưa cho chị P, chị P đã giao nộp lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N để khắc phục hậu quả cho bị cáo, do đó hoàn trả số tiền 2.500.000 đồng cho bị hại anh Trần Thanh K2.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 20.000.000 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Hội đồng xét xử nghi nhận sự tự nguyện của các bên. Bị hại được nhận lại số tiền 2.500.000 đồng do chị Huỳnh Thị P giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N nên số tiền bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại là 17.500.000 đồng.

[9] Về án phí: Bị cáo Trần Văn K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đồng thời, bị cáo còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền 17.500.000 đồng bồi thường cho bị hại là 875.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Trần Văn K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/12/2023.

  2. Về xử lý vật chứng:
    1. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Hoàn trả cho bị hại anh Trần Thanh K2 số tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm ngàn) đồng, theo Ủy nhiệm chi số 080 ngày 12/4/2024 Của Công an huyện N cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
    2. Áp dụng Điều 107 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Tiếp tục lưu giữ 01 (một) chiếc USB bằng kim loại, loại 16GB, bên trong chứa hình ảnh Trần Văn K và đồng phạm trộm cắp tài sản trong hồ sơ vụ án.
  3. Buộc bị cáo Trần Thanh T1 bồi thường cho bị hại Trần Thanh K2 số tiền 17.500.000 đồng (mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng) ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  4. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 875.000 (tám trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
  5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị P được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Nhứt L vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị D

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRỘM CẮP TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger