Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BUÔN HỒ

TỈNH ĐĂKLĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bá Nhất

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Ngọc Khánh
  2. Ông Hứa Quang Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nga - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Phòng xử án - Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST-HS, ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2022/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lưu Đức T, sinh năm 1990 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn C, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Tài P, sinh năm 1963 và con bà Nông Thị D, sinh năm 1967;

Nhân thân: Ngày 21 tháng 8 năm 2023 bị Ủy ban nhân dân xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy trong 01 năm kể từ ngày 17 tháng 8 năm 2023. Ngày 15 tháng 01 năm 2024, Ủy ban nhân dân xã E, thị xã B ra Quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23 tháng 4 năm 2024 và chuyển sang tạm giam từ ngày 29 tháng 4 năm 2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B. Có mặt

- Người chứng kiến: Anh Nông Văn B, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn A, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

1

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo T là người nghiện chất ma tuý, loại Heroine. Vào khoảng 16 giờ 00 ngày 22 tháng 4 năm 2024 T đi bộ từ nhà mình đến khu vực ngã Năm thuộc thôn A, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk rồi xin đi nhờ xe của một người đàn ông đi đường (không rõ nhân thân, lai lịch) để đi ra trung tâm thị xã B và được người này đồng ý, sau khi đi đến trước khu vực siêu thị C thuộc thị xã B thì T xuống xe và tiếp tục xin đi nhờ xe của một người đàn ông đi đường khác (không rõ nhân thân, lai lịch) để đi đến địa phận xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Khi T đi đến khu vực đồi thông thuộc xã C, huyện K, thì T xuống xe với mục đích tìm người đàn ông tên T1 (trong quá trình sử dụng ma túy thì T biết được người đàn ông tên T1 có bán ma túy) để mua ma tuý về sử dụng, lúc này T nhìn thấy T1 đang đứng một mình ở đây nên T đến hỏi mua Heroine với số tiền 200.000 đồng thì T1 đồng ý bán, T đưa tiền cho T1 200.000 đồng và T1 đưa lại cho T 01 gói giấy bạc bên trong chứa ma túy, loại Heroine. Sau khi mua được ma tuý, T cất giấu gói ma tuý vào trong túi quần phía trước bên phải của mình và đi bộ ra đường Quốc lộ 14 rồi xin đi nhờ xe của người đi đường (không rõ nhân thân, lai lịch) để về trung tâm thị xã B, khi đi nhờ đến khu vực Buôn T, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk thì T xuống xe và tiếp tục đi bộ về nhà mình. Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 22 tháng 4 năm 2024, khi T đang đi trên đường liên xã thuộc thôn A, xã E, thị xã B thì bị lực lượng Công an xã E phát hiện bắt quả tang, thu giữ niêm phong một gói giấy bạc bên trong có chứa các cục chất rắn màu trắng, T khai nhận đây là gói ma túy loại Heroine mua về để sử dụng.

Bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện của mình như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra.

Tại Bản kết luận giám định số: 617/KL-KTHS ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ kết luận: Các cục chất rắn màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy bạc được niêm phong gửi giám định là Ma túy, có khối lượng 0,1286 gam, loại: Heroin.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về Kết luận giám định.

Tại Bản Cáo trạng số: 26/CT - VKSBH, ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ truy tố để xét xử đối với bị cáo Lưu Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đánh giá về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:

2

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lưu Đức T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 23 tháng 4 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy khối lượng 0,0964 gam Heroin còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố và cũng không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Vào khoảng 18 giờ 45 phút ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại thôn A, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Lực lượng Công an xã E phát hiện bắt quả tang bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thu giữ của bị cáo tổng khối lượng 0,1286 gam, sau giám định xác định là ma túy, loại Heroin, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLX-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[3] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nêu trên của bị cáo, đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

3

Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật, nên cần chấp nhận.

[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, ngoài việc xâm hại đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy còn góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy tại địa phương và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian, nhằm tác dụng trừng trị, đồng thời cải tạo, giáo dục để bị cáo có điều kiện từ bỏ ma túy và trở thành công dân sống có ích cho xã hội và tôn trọng pháp luật. Ngoài ra, còn đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung, phục vụ cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy tại địa phương.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo là người dân tộc thiểu số. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy khối lượng 0,0964 gam Heroin còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án.

[7] Về án phí: Cần buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lưu Đức T 01 năm 06 tháng (Một năm sáu tháng) tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 23 tháng 4 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy khối lượng 0,0964 gam Heroin còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án.

(Đặc điểm vật chứng được mô tả tại biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lưu tại hồ sơ vụ án)

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lưu Đức T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

4

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - Viện KSND thị xã Buôn Hồ;
  • - Công an thị xã Buôn Hồ;
  • - Bộ phận thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, vi tính.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bá Nhất

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐĂKLĂK về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐĂKLĂK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lưu Đức T bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger