Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THUẬN THÀNH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23/5/2024

V/v: Tranh chấp ly hôn giữa chị Huệ và anh Tiến.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hồng Sơn và ông Nguyễn Đăng Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thập, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 23/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 287/2023/TLST-HNGĐ ngày 29/11/2023 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12A/2024/ QĐXX-ST ngày 29/3/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1996, ĐT: 0968.386.xxx, vắng mặt;
  2. Địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện G, tỉnh B.

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1991, ĐT: 0363.938.xxx, vắng mặt;
  4. Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, thị xã Th, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*. Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Duy T kết hôn ngày 19/01/2021, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mão Điền. Sau khi kết hôn, hai bên chung sống với nhau ngay. Quá trình chung sống, thời gian đầu hòa thuận và hạnh phúc. Tuy nhiên, từ tháng 02/2023 vợ chồng thường xuyên pháp sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp. Đến tháng 9/2023, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và sống ly thân. Nay, chị cho rằng tình cảm vợ chồng không còn và không có khả năng đoàn tụ, nên chị vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn.

- Về nuôi con chung: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về chia tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn.

*. Trong các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Duy T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh thừa nhận trình bày của nguyên đơn về điều kiện và thời gian kết hôn, tình trạng hôn nhân và nguyên nhân mâu thuẫn nhưng anh cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn và vẫn có khả năng đoàn tụ nên anh không nhất trí ly hôn, mà đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên, anh chỉ có lời trình bày, chứ không đưa ra được phương án nào để vợ chồng đoàn tụ.

- Về nuôi con chung: Anh cũng xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về chia tài sản: Anh cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn.

*. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã tuân thủ đầy đủ và đúng theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự (trừ bị đơn).

- Việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 51, 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Đề nghị:

  • +. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Duy T.
  • +. Về nuôi con chung: Không đề cập giải quyết.
  • +. Về chia tài sản: Không đề cập giải quyết.
  • +. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa mở lại hôm nay, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Nguyễn Duy T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về hôn nhân: Nhận thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Duy T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và không vi phạm các điều kiện kết hôn, nên hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không có kết quả, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn; còn bị đơn tuy không nhất trí ly hôn nhưng cũng thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng và sống ly thân cũng như không đưa ra được phương án hòa giải cụ thể nào để thuyết phục nguyên đơn về đoàn tụ, hơn nữa tại phiên tòa mở lại lần này bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, chứng tỏ bị đơn nhằm gây khó khăn và thực sự không có thiện chí về đoàn tụ nên đề nghị của bị đơn không có cơ sở.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa hai bên đã ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận cho nguyên đơn được ly hôn bị đơn là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3]. Về nuôi con chung: Do các bên xác định không có và không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập xem xét.

[4]. Về chia tài sản: Do các bên không yêu cầu xem xét, nên không đề cập giải quyết. Tuy nhiên, sau này các bên vẫn được quyền yêu cầu bằng vụ việc dân sự khác theo quy định của pháp luật.

[5]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Duy T.
  2. Về nuôi con chung: Không đề cập giải quyết.
  3. Về chia tài sản: Không đề cập giải quyết.
  4. *. Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003475 ngày 29/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành; chị Huệ đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

*. Về quyền kháng cáo: Báo cho đương sự vắng mặt được quyền được kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Tuyến

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - UBND xã Mão Điền;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger