Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23/5/2024

V/v hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và bà Đỗ Thị Thu Hà.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Diệu Thúy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Xuân Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/QĐ – HPT ngày 08/5/2024 giữa:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị K, sinh năm 1978

Nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Có mặt)

Bị đơn: Anh Hà Văn T, sinh năm 1973

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa nguyên đơn chị Bùi Thị K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hà Văn T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 09/11/2007 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường đến tháng 3 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, anh T không tu chí làm ăn, chơi bời. Đến tháng 6 năm 2018 thì anh T bỏ nhà ra đi. Chị đã nhiều lần gọi điện liên lạc khuyên anh T về chung sống nhưng anh T không về và cắt đứt liên lạc với mẹ con chị. Trước khi ly hôn, chị đã yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Hà Văn T mất tích. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn anh Hà Văn T.

Về con chung: Chị và anh T có hai con chung là Hà Minh P, sinh ngày 06/4/2008 và Hà Minh C, sinh ngày 07/7/2017. Hiện hai con chung do chị nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 02/2024/QÐST – VDS ngày 25/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình đã tuyên bố anh Hà Văn T mất tích.

* Tại biên bản lấy lời khai 16/4/2024 cháu Hà Văn P1 là con chung của anh T và chị K trình bày: Bố cháu đã đi biệt tích khoảng 6 năm nay không có tin tức gì. Nay cháu có nguyện vọng được ở cùng mẹ cháu là Bùi Thị K.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là từ bỏ quyền của mình.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật: áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Xử cho chị Bùi Thị K ly hôn anh Hà Văn T; Về quan hệ con chung: Giao cho chị Bùi Thị K trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung; Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và các bên được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Anh Hà Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị K và anh Hà Văn T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 09/11/2007 tại UBND xã T. Tại thời điểm kết hôn, hai bên đủ điều kiện kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống cùng nhau đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn anh T bỏ đi biệt tích không có tin tức gì. Trước khi ly hôn, chị K đã gửi đơn yêu cầu tuyên bố mất tích và Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy đã tuyên bố anh Hà Văn T mất tích. Vì vậy căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị K được ly hôn anh T.

[3] Về quan hệ con chung: Chị K và anh T có hai con chung Hà Minh P, sinh ngày 06/4/2008 và Hà Minh C, sinh ngày 07/7/2017. Ly hôn, chị K thể hiện quan điểm đề nghị Tòa án giao cho chị K được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Xét thấy nguyện vọng của chị K là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân gia đình nên cần chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chung, các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết, khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị K không đề nghị Tòa án giải quyết, anh T không có ý kiến trình bày nên không đặt ra giải quyết. Khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án chị K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Chị K và anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị K ly hôn anh Hà Văn T.
  2. Về con chung: Chị K và anh T có hai con chung Hà Minh P, sinh ngày 06/4/2008 và Hà Minh C, sinh ngày 07/7/2017. Ly hôn giao cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị K. Anh T có quyền thăm nom chăm sóc con chung. Anh T, chị K có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
  3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Bùi Thị K phải chịu 300.000 đồng. Đối trừ số tiền 300.000 đồng chị K đã nộp tạm ứng áp phí theo biên lai thu số 0004116 ngày 04 tháng 4 năm 2024 sang tiền án phí, chị K đã thi hành xong.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Hà Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự.
  • - VKSND huyện Thái Thụy.
  • - VKSND tỉnh Thái Bình.
  • - Chi cục THADS huyện Thái Thụy.
  • - UBND xã Thái Xuyên.
  • - TAND tỉnh Thái Bình.
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Vương

3

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị K ly hôn anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger