|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày 23 -5- 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vụ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lượng và ông Phạm Xuân Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Lương Hồng Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Glong, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/HS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Đức M, sinh năm 1995 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 2, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nơi ở trước khi phạm tội: bon P, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Trần Đức T và bà Hoàng Thị X; có vợ là Phạm Thị Lệ T (đã ly hôn), đang chung sống như vợ chồng với bà Đoàn Thị A và 01 con; Nhân thân: Tại bản án hình sự số: 86/2013/HSST ngày 27-12-2013 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (đã xóa án tích); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11-01-2024 - Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn K; địa chỉ: Thôn 9, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Đoàn Thị A; địa chỉ: Bon P, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Đức M là người nghiện ma túy. Ngày 01/01/2024, M đi đến xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng mua 01 túi nilon chứa ma túy với số tiền 2.000.000 đồng của người tên Hồng (không rõ nhân thân lai lịch). M mang ma túy về cất giấu bên trong lỗ của viên gạch trên tường, ở khu vực làm đồ gỗ mỹ nghệ do M quản lý (cách chỗ ở của M khoảng 05m thuộc bon P, xã Q) mục đích để sử dụng dần. Sau đó, mỗi lần sử dụng, M lấy túi nilon chứa ma túy đổ một ít ma túy vào ống thủy tinh để sử dụng, rồi hàn kín túi nilon cất giấu lại chỗ lỗ viên gạch và cất ống thủy tinh bên trong vỏ gói thuốc lá nhãn hiệu SEVEN DIAMONDS, màu xanh để ở kệ gỗ.
Sáng ngày 10/01/2024, M lấy túi nilon chứa ma túy mua của H ra đổ 01 ít ma túy vào 01 gói nilon đã chuẩn bị sẵn, sau đó lấy 01 cuộn băng keo màu xanh, mở một đoạn băng keo ra, để gói ma túy vào rồi dán băng keo đè lên và cầm cả cuộn băng keo cất vào trong túi áo khoác treo ở giá treo quần áo đặt bên hiên nhà, nhằm mục đích mang theo để sử dụng khi có nhu cầu. Còn túi nilon chứa ma túy mua của H, thì M vẫn cất giấu ở vị trí cũ. Tuy nhiên sau đó M đi công việc, quên mang theo chiếc áo khoác có cất giấu ma túy.
Vào lúc 08 giờ 55 phút cùng ngày, Trần Văn K (sinh năm 1995) điện thoại cho M hỏi mua 500.000 đồng ma túy và M đồng ý. K chuyển khoản số tiền 500.000 đồng vào số tài khoản 002468679 của M mở tại ngân hàng MBANK. Sau khi nhận được tiền, M gọi điện cho chị A và nói dối là cho K mượn chiếc áo khoác. Sau đó M điện thoại cho K và hướng dẫn K đến nhà M để lấy chiếc áo khoác có cất giấu ma túy. Kiên đến nhà M và được chị A chỉ chỗ lấy chiếc áo khoác mang về nhà. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, K lấy ma túy mua của M ra và đổ toàn bộ số ma tuý bên trong gói nilon vào ống thuỷ tinh để sử dụng hết.
Sáng ngày 11/01/2024 M, K bị Công an huyện Đ phối hợp Trung tâm Y tế huyện Đ kiểm tra, xét nghiệm việc sử dụng ma túy. Qua làm việc, M đã khai báo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và giao nộp các đồ vật liên quan.
Tại bản kết luận giám định số 38/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận:
Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nilon kích thước (2x1,8)cm, hàn kín được niêm phong trong bì thư có ghi “Mẫu A” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng mẫu là 0,2638 gam.
Chất rắn màu nâu đen bám dính bên trong ống thủy tinh uốn cong, một đầu ống thủy tinh có dạng hình cầu, được niêm phong trong bì thư có ghi là “Mẫu B” gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng mẫu là 0,1918 gam.
Tổng khối lượng mẫu vật gửi giám định là 0,4556 gam.
Hoàn lại đối tượng giám định: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong trong bì thư có ghi “Mẫu A”, hoàn lại Cơ quan trưng cầu sau giám định có khối lượng mẫu là 0,2482 gam, được niêm phong trong bì thư có ký hiệu số 38/KL-KTHS và ghi mẫu A hoàn trả.
Chất rắn màu nâu đen bám dính bên trong 01 (một) ống thuỷ tinh uốn cong, một đầu ống thuỷ tinh có dạng hình cầu được niêm phong trong bì thư ghi “Mẫu B”, hoàn lại Cơ quan trưng cầu sau giám định có khối lượng mẫu là 0,1801 gam và ống thủy tinh đựng mẫu gửi giám định được niêm phong trong bì thư có ký hiệu số 38/KL-KTHS và ghi mẫu B hoàn trả.
Tổng khối lượng Methamphetamine hoàn lại sau giám định là 0,4283 gam
Tại bản kết luận giám định số 39/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Chất rắn màu nâu đen bám dính bên trong ống thủy tinh được uốn cong, một đầu ống thuỷ tinh dạng hình cầu được niêm phong trong bì thư có ghi “Mẫu K” gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 0,0005 gam.
Hoàn lại đối tượng giám định: Chất rắn màu nâu đen bám dính bên trong ống thủy tinh được uốn cong, một đầu ống thuỷ tinh dạng hình cầu được niêm phong trong bì thư có ghi “Mẫu K” đã sử dụng hết cho công tác giám định. Hoàn lại ống thủy tinh đựng mẫu giám định, được niêm phong trong bì thư có ký hiệu số 39/KL-KTHS và ghi mẫu K hoàn trả
Cáo trạng số: 25/CT-VKS ngày 23-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo Trần Đức M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đức M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong sau khi trình bày luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Đức M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đức M từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đức M từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Đức M phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm 06 tháng đến 04 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy 0,4283 gam Methamphetamine, 02 ống thủy tinh, 01 áo khoác, 01 cuộn băng keo, 01 vỏ gói thuốc lá;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE, màu đen, bên trong gắn sim điện thoại 0974.067.xxx, 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A5, 2020, màu đen, bên trong gắn sim điện thoại 09719546xxx388642573; số tiền 500.000 đồng thu lợi bất chính đã nộp lại.
Bị cáo Trần Đức M không tranh luận chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 01/01/2024, Trần Đức M mua ma túy của một người tên Hồng (không rõ nhân thân lai lịch) ở xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng với số tiền 2.000.000 đồng mang về cất giấu tại khu vực làm đồ gỗ mỹ nghệ do M quản lý thuộc bon P, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông nhằm mục đích tàng trữ để sử dụng.
Đến ngày 10/01/2024, tại bon P, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông M bán ma túy (được chia ra từ túi nilon ma túy mua của Hồng) cho Trần Văn K với số tiền 500.000 đồng. Ngày 11/01/2024, Trần Đức M ra đầu thú và giao nộp tổng khối lượng 0,4556 gam Methamphetamine mà M đang tàng trữ trái phép để sử dụng.
Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự sự là đúng pháp luật.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định như sau:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
[3]. Xét tính chất vụ án do hành vi của bị cáo gây ra là nghiêm trọng, đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc, mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thù, bị cáo có bố đẻ tham gia công tác Hội cựu chiến binh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 0,4283 gam Methamphetamine, 02 ống thủy tinh, 01 áo khoác, 01 cuộn băng keo, 01 vỏ gói thuốc lá;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE, màu đen, bên trong gắn sim điện thoại 0974.067.xxx, 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A5, 2020, màu đen, bên trong gắn sim điện thoại 09719546xxx388642573; số tiền 500.000 đồng thu lợi bất chính đã nộp lại.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7]. Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không xử phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8]. Đối với Trần Văn K mua ma túy của M để sử dụng, hành vi của K không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 08/4/2024, Công an huyện Đắk Glong đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-XPVPHC đối với Kiên về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.
Đối với người đàn ông tên “H” bán ma túy cho Trần Đức M do chưa xác định được nhân thân lai lịch, nên Cơ quan cảnh sát điều tra đang xác minh và xử lý sau là phù hợp.
Đối với Đoàn Thị A, không biết việc Trần Đức M thực hiện hành vi tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy nên không đề cập xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Đức M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Đức M phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 03 (ba) năm 06 tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 11-01-2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 0,4283 gam Methamphetamine, 02 ống thủy tinh, 01 áo khoác, 01 cuộn băng keo, 01 vỏ gói thuốc lá;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE, màu đen, bên trong gắn sim điện thoại 0974.067.xxx, 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu OPPO A5, 2020, màu đen, bên trong gắn sim điện thoại 09719546xxx388642573; số tiền 500.000 đồng thu lợi bất chính đã nộp lại.
(Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong ngày 21-5-2024)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Đức M phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Quốc Vụ |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG về tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đức M
