|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST
Ngày 23-4-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Thiên Nga
Ông Vũ Đức Dũng
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 214/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Nguyệt Q; nơi cư trú: Số C đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trường A; nơi ĐKTT: Tổ A, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số F đường L, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ dân sự ly hôn, quá trình giải quyết tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Nguyệt Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2012 chị Trần Thị Nguyệt Q và anh Nguyễn Trường A kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận K, thành phố Hải Phòng ngày 14/02/2012. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính cách không phù hợp dẫn đến vợ chồng đánh cãi nhau, vợ chồng nhiều lần ly thân, sau đó gia đình khuyên giải vợ chồng hàn gắn. Mâu thuẫn căng thẳng từ năm 2021, chị Q đã đưa hai con về ở cùng với bố mẹ đẻ và ly thân mỗi người một nơi không còn liên quan về tình cảm cũng như về kinh tế. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Trường A.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị Trần Thị Nguyệt Q và anh Nguyễn Trường A có hai con chung là Nguyễn Trần Ngọc T, sinh ngày 02/02/2013 và Nguyễn Trần Ngọc L, sinh ngày 24/9/2017. Từ khi vợ chồng sống ly thân hai con đều ở với chị Q và nguyện vọng của cháu Nguyễn Trần Ngọc T mong muốn được ở với chị Q. Chị Q đề nghị Toà án giao hai con cho chị nuôi vì chị có công việc và thu nhập ổn định. Việc cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Trần Thị Nguyệt Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Trường A vắng mặt tại các phiên hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không có quan điểm theo yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Nguyệt Q nhưng trong hồ sơ có tài liệu thể hiện việc Tòa án đã tống đạt các Thông báo, Quyết định cho anh A.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án đã thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các điều 58; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Trần Thị Nguyệt Q được ly hôn anh Nguyễn Trường A. Về con chung: Chị Trần Thị Nguyệt Q và anh Nguyễn Trường
A có hai con chung là Nguyễn Trần Ngọc T, sinh ngày 02/02/2013 và Nguyễn Trần Ngọc L, sinh ngày 24/9/2017, chị Trần Thị Nguyệt Q có đề nghị được nuôi hai con và cũng là nguyện vọng của cháu Nguyễn Trần Ngọc T: Giao con Nguyễn Trần Ngọc T và Nguyễn Trần Ngọc L cho chị Q nuôi, việc cấp dưỡng nuôi con chị Q không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị Q không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Q phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà, Tòa án nhận định:
Xét về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1] Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Nguyễn Trường A có nơi cư trú trên địa bàn quận N, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn là anh Nguyễn Trường A, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản theo quy định của pháp luật, anh A không có quan điểm giải quyết vụ án, vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân:
[3] Điều kiện và quá trình kết hôn như chị Trần Thị Nguyệt Q đã trình bày, hôn nhân giữa chị Trần Thị Nguyệt Q và anh Nguyễn Trường A là hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh chị bất đồng quan điểm sống, lối sống, tính cách không phù hợp. Mâu thuẫn căng thẳng, chị Q và anh A đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2021 không còn liên quan về tình cảm cũng như về kinh tế. Hội đồng xét xử xét thấy, vì khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Q theo quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về việc nuôi con:
[4] Chị Trần Thị Nguyệt Q và anh Nguyễn Trường A có hai con chung là Nguyễn Trần Ngọc T, sinh ngày 02/02/2013 và Nguyễn Trần Ngọc L, sinh ngày 24/9/2017. Hội đồng xét xử xét thấy, anh A không có quan điểm về việc nuôi con.
Từ khi chị Q và anh A sống ly thân, chị Q vẫn đảm bảo điều kiện chăm sóc, nuôi dạy các con. Vì vậy, giao con Nguyễn Trần Ngọc T và Nguyễn Trần Ngọc L cho chị Q nuôi là phù hợp với quy định của pháp luật, tình hình thực tế hiện nay và cũng là nguyện vọng của cháu T. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị Q không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về việc chia tài sản:
[5] Chị Trần Thị Nguyệt Q không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[6] Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Trần Thị Nguyệt Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; 58; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 207; khoản 3 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Nguyệt Q
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trần Thị Nguyệt Q được ly hôn anh Nguyễn Trường A.
2. Về việc nuôi con:
Chị Trần Thị Nguyệt Q và anh Nguyễn Trường A có hai con chung là Nguyễn Trần Ngọc T, sinh ngày 02/02/2013 và Nguyễn Trần Ngọc L, sinh ngày 24/9/2017. Giao hai con là Nguyễn Trần Ngọc T và Nguyễn Trần Ngọc L cho chị Trần Thị Nguyệt Q trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự
thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị Q không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về việc chia tài sản:
Chị Trần Thị Nguyệt Q không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
4. Về án phí:
Chị Trần Thị Nguyệt Q phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003834 ngày 02 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Chị Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án:
Chị Trần Thị Nguyệt Q được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Anh Nguyễn Trường A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Phương |
Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quang An
