|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày 23-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
Ông Lưu Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lai Thị Ngọc Mãi - Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
- Võ Văn N, sinh ngày 15 tháng 02 năm 1994 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp K, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Võ Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị N1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 15/12/2023, bị tạm giữ ngày 16/12/2023, chuyển tạm giam ngày 25/12/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Đỗ Việt T1, sinh ngày 09 tháng 4 năm 2002 tại T, Cà Mau; CCCD số 0962202001660; Nơi cư trú: ấp I, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Đỗ Văn S và bà Bùi Thị Đ; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 15/12/2023, bị tạm giữ ngày 16/12/2023, chuyển tạm giam ngày 25/12/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 15/12/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân phát hiện Đỗ Việt T1 và Võ Văn N điều khiển xe máy biển kiểm soát 52T8-2319 trên tuyến đường thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang có dấu hiệu Tàng trữ trái phép chất ma túy nên Công an huyện A tiến hành kiểm tra và bắt quả tang thu giữ trong túi áo khoác bên trái của T1 có 01 gói thuốc lá hiệu JET, bên trong gói thuốc lá có 01 túi nylon trong suốt được hàn kín, bên trong chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất nghi là ma túy nên tiến hành thu giữ và niêm phong.
Tại Cơ quan điều tra Đỗ Việt T1 và Võ Văn N khai nhận: Vào khoảng 15 giờ ngày 15/12/2023, Võ Văn N, sinh ngày 15/02/1994 đang ở nhà ở ấp K, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang gọi điện cho Đỗ Việt T1, sinh ngày 09/4/2002, cư trú: ấp I, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau chạy xe đến nhà của N để chở N đi chợ Thứ Mười Một mua ma túy về cùng sử dụng thì T1 đồng ý. T1 điều khiển xe mô tô hiệu Sirius màu vàng, trắng mang biển kiểm soát 52T8-2319 đến nhà của N để chở N đi. Khi T1 điều khiển xe đến khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì N kêu T1 dừng xe và đưa cho T1 900.000 đồng kêu T1 vào nhà gặp người thanh niên trong nhà (chưa rõ nhân thân lai lịch) mua 900.000 đồng ma túy. Sau khi mua ma túy xong T1 cất vào túi áo khoác bên trái và ra xe chuẩn bị về thì bị Công an huyện A bắt quả tang.
Tại Kết luận số 1308/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: Nhiều hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,4764 gam.
(Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, SST 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ). (Bút lục 104).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện A thu giữ tang vật gồm: 01 túi nylon được hàn kín bên trong chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất nghi là ma túy; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET (thu giữ trong túi áo khoác bên trái của T1); 01 xe máy màu vàng, trắng mang biển kiểm soát 52T8-2319; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng, hỏng màn hình (của T1); 01 điện thoại di động hiệu Nokia105 bàn phím, cũ đã qua sử dụng (của N tự nguyện giao nộp).
Tại Cáo trạng số 24/CT-VKS-AM ngày 14-3-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Võ Văn Ngà và Đỗ Việt Tân về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- - Kiểm sát viên kết luận bị cáo Đỗ Việt T1 và Võ Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị:
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Việt T1 từ 12 đến 15 tháng tù.
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn N từ 15 đến 18 tháng tù.
- + Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong có ký hiệu số vụ 1308/2023, bên trong có chứa 0,3937 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe máy màu vàng, trắng mang biển kiểm soát 52T8-2319 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO màu tím đen đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 105 bàn phím đã qua sử dụng.
- - Bị cáo trình bày: Bị cáo Đỗ Việt T1 và Võ Văn N thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng các bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 15 giờ ngày 15/12/2023, Võ Văn N gọi điện thoại cho Đỗ Việt T1 đến đón tại nhà để cả hai cùng nhau đi mua ma túy tại chợ T3 để sử dụng thì T1 đồng ý. Khi đi đến khu vực thuộc khu phố B, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì N kêu T1 dừng xe và đưa cho T1 900.000 đồng vào nhà gặp người thanh niên chưa rõ lai lịch, nhân thân để mua ma túy. Sau khi mua ma túy xong thì T1 cất giấu vào túi áo khoác bên trái, ra xe chuẩn bị ra về thì bị Công an huyện A bắt quả tang. Kết quả điều tra xác định số ma túy trên là do Đỗ Việt T1 và Võ Văn N cùng nhau mua về để sử dụng. Theo Kết luận giám định chất ma túy mà T1 và N tàng trữ là loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,4764 gam.
[2.2] Hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng đã tàng trữ trái phép là phạm tội với lỗi cố ý; mục đích tàng trữ ma túy của các bị cáo là để sử dụng, không nhằm để mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy; loại ma túy bị cáo tàng trữ là Methamphetamine có khối lượng 0,4764 gam; tuy rằng chất ma túy Công an thu giữ là trên người bị cáo T1 nhưng bị cáo N và T1 cùng nhau đi mua ma túy về để sử dụng chung, số tiền 900.000 đồng mua ma túy là của bị cáo N nên được xác định là đồng phạm, cùng nhau thực hành tội phạm. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận các bị cáo Đỗ Việt T1 và Võ Văn N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác và bất bình trong nhân dân. Các bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và những hệ lụy của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người sử dụng, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo thật nghiêm để có thời gian giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo N, T1 đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị cáo N có cha ruột là người có công cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng các bị cáo đã phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù, làm phức tạp thêm tình hình tệ nạn ma túy, gây bất ổn và gây dư luận không tốt ở địa phương nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo. Khi quyết định hình phạt, thấy bị cáo N là người khởi xướng, rủ rê bị cáo T1 nên trách nhiệm hình sự phải cao hơn; các bị cáo mới phạm tội lần đầu nên chỉ cần xử phạt mức đầu khung hình phạt là phù hợp.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, HĐXX nhận thấy lẽ ra áp dụng hình phạt bổ sung để tăng tính răn đe. Tuy nhiên, nhận thấy các bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định, phải thi hành hình phạt tù khó đảm bảo khả năng thi hành án nên không áp dụng đối với các bị cáo.
[5] Về vật chứng, ma túy là vật cấm tàng trữ, bao thuốc lá bị cáo dùng để đựng gói ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với chiếc xe máy, điện thoại di động là công cụ các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về án phí, bị cáo Đỗ Việt T1 và Võ Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Đối với người bán ma túy cho các bị cáo chưa làm rõ được lai lịch, nhân thân nên chưa xử lý trong vụ án này là phù hợp. Đề nghị Viện kiểm sát, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Việt T1 và Võ Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn N 15 (mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị bắt quả tang (ngày 15/12/2023).
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Việt T1 01 (một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị bắt quả tang (ngày 15/12/2023).
- Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng.
-
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì được niêm phong có ký hiệu số vụ 1308/2023, có chữ ký của giám định viên Thái Thị Thanh T2, người chứng kiến niêm phong Trần Nhựt Huynh và các dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh K, bên trong có chứa 0,3937 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu JET.
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe máy màu vàng, trắng mang biển kiểm soát 52T8-2319 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO màu tím đen đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 105 bàn phím đã qua sử dụng.
(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 11/QĐ-VKS-AM ngày 14-3-2024 của VKSND huyện An Minh).
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Đỗ Việt T1 và Võ Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 23-4-2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Văn N và Đỗ Việt T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
