trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NÔNG CỐNG

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST

Ngày 22 - 7 - 2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kỳ Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đức Thuận và bà Bùi Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Liên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hà Đức Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 107/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Lê Minh H, sinh năm 1988.
  2. Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Bị đơn: Chị Trương Thị S, sinh năm 1988
  4. Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi ở hiện nay: Hẻm G khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

(Tại phiên tòa anh H và chị S đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lê Minh H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Minh H và chị Trương Thị S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An ngày 07/4/2009.

Quá trình chung sống vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn. Vì điều kiện kinh tế gia đình nên anh thường xuyên đi làm ăn xa, vợ chồng ít có sự gần gũi về mặt tình cảm. Đầu năm 2022, không hiểu vì lý do gì, chị S bỏ nhà đi vĩ từ đó cho đến nay vợ chồng sống ly thân. Mặc dù anh và gia đình đã nhiều lần động viên chị S trở về để chăm sóc con và hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng chị S không về. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Trương Thị S.

- Về con chung: Anh H và chị S có 02 con chung là Lê Quý Nguyên S1, sinh ngày 25/3/2010 và Lê Quý Sơn H1, sinh ngày 07/12/2016. Hiện nay cả hai con đang sống cùng anh H. Nguyện vọng của anh H khi ly hôn là được tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng 02 con và không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì lý do công việc đi làm xa anh không thể tham gia phiên tòa được, nên anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.

* Tại bản tự khai ngày 28/6/2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai bị đơn Trương Thị S trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị S và anh Lê Minh H kết hôn với nhau dọ tự nguyện quyết định, đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện D, tỉnh nghệ An ngày 07/4/2009. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2021 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau về chuyện tình cảm vợ chồng, bất đồng về quan điểm chăm sóc con cái. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến tháng 7 năm 2022 chị và anh H sống ly thân cho đến nay. Quá trình sống ly thân không ai quan tâm đến ai, kinh tế vợ chồng độc lập, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đồng ý ly hôn với anh H và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H

- Về con chung: Chị S và anh H có 02 con chung là Lê Quý Nguyên S1, sinh ngày 25/3/2010 và Lê Quý Sơn H1, sinh ngày 07/12/2016. Để đảm bảo ổn định nơi ở và học tập của con nên sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng để hai con cho anh H nuôi dưỡng, tạm thời chị không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận công việc và ở xa nên chị không thể tham gia phiên tòa được, chị xin được vắng mặt trong các buổi làm việc của Tòa án và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa sơ thẩm:

+ Về tố tụng:

- Về việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách tố tụng của các đương sự; việc thực hiện các thủ tục tố tụng như xác minh thu thập chứng cứ, ban hành và giao các văn bản tố tụng đều đúng và đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của đương sự: Anh H và chị S đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; tại phiên tòa sơ thẩm chị S và anh H đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật.

+ Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về đường lối giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện H, tỉnh Nghệ An vào ngày 07/4/2009. Trong thời gian sống chung, vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân từ tháng 7 năm 2022 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, anh H và chị S đều thống nhất ly hôn, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho anh H và chị S được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Quý Nguyên S1, sinh ngày 25/3/2010 và Lê Quý Sơn H1, sinh ngày 07/12/2016. Hai cháu hiện nay đang ở cùng với anh H. Khi ly hôn, anh H xin được nuôi con là phù hợp với thực tế, phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu xin được ở với bố và ý kiến đồng ý của chị S. Vì vậy, đề nghị giao 02 con cho anh H nuôi dưỡng, anh H không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Anh H và chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

- Về án phí: Anh H chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn chị Trương Thị S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm vắng mặt anh H và chị S nhưng anh H và chị S đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt anh H và chị S theo điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa anh Lê Minh H và chị Trương Thị S:

Quan hệ hôn nhân giữa anh Lê Minh H và chị Trương Thị S dựa trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An ngày 07/4/2009; vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp.

Đánh giá về mâu thuẫn và thực trạng quan hệ hôn nhân: Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng xảy ra nhiều bất đồng mâu thuẫn trong cuộc sống. Tháng 7 năm 2022 vợ chồng sống ly thân cho đến nay, mỗi người ở mỗi nơi, không liên lạc, không quan tâm đến nhau trong thời gian dài. Anh H và chị S đều xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gia đình trầm trọng nên đề nghị xin được ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn gia đình đã đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc không đạt được. Anh H và chị S sống ly thân đã lâu, tình cảm dành cho nhau không còn. Anh H xin ly hôn, chị S đồng ý ly hôn anh H là phù hợp với tình trạng mâu thuẫn gia đình, phù hợp với quy định Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của anh H được ly hôn chị S.

[3] Về con chung: Anh H và chị S có 02 con chung là Lê Quý Nguyên S1, sinh ngày 25/3/2010 và Lê Quý Sơn H1, sinh ngày 07/12/2016. Sau khi anh H và chị S sống ly thân, hai con do anh H chăm sóc, nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyện vọng xin được nuôi con của anh H là chính đáng, chị S tự nguyện giao 02 con cho anh H nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp với tình hình thực tế và nguyện vọng của cả hai con đều muốn được ở với anh H sau khi bố mẹ ly hôn. Vì vậy cần giao 02 con cho anh H chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh H không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Anh H và chị S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Anh H khởi kiện vụ án nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82, và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 7 Điều 26; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh Lê Minh H được ly hôn chị Trương Thị S.
  2. Về con chung: Giao 02 con chung là Lê Quý Nguyên S1, sinh ngày 25/3/2010 và Lê Quý Sơn H1, sinh ngày 07/12/2016 cho anh Lê Minh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh H không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con chung.

    Chị Trương Thị S có quyền có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

    Vì quyền lợi của các con, các bên đương sự có quyền đề nghị Tòa án giải quyết việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. Về án phí: Anh Lê Minh H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) anh H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh hóa theo Biên lai thu số 0003034 ngày 03 tháng 6 năm 2024. Chấp nhận anh H đã nộp đủ tiền án phí.
  4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt anh H và chị S. Anh H và chị S có quyền kháng bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Nông Cống;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS huyện Nông Cống;
  • - UBND xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Võ Kỳ Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Lê Minh H tranh chấp ly hôn và nuôi con chung với chị Trương Thị S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger