|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2024/HNGĐ Ngày: 22-04-2024 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LONG AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Đức Huy
- Ông Bùi Mạnh Quyết
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Thái Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Long An.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 01/2024/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trịnh Đình K, sinh năm 1997; Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Tạ Thành Đ, sinh năm 1992; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
(Nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Trịnh Đình K trình bày: Năm 2018, bà K và ông Đ chung sống với nhau như vợ chồng đến năm 2021 bà K và ông Đ đăng ký kết hôn tại U, huyện T, tỉnh Long An. Sau khi kết hôn ông bà mướn nhà trọ để sinh sống. Thời gian đầu sống hạnh phúc. Năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do ông Đ không phụ kiếm tiền để lo cho vợ con; ông bà ngoại phải gửi tiền phụ lo cho con cái. H tối ông Đ thường xuyên đi uống cà fe đến khuya về. Tháng 9/2023, bà K bỏ về bên cha mẹ ruột ở cho đến nay vì bà không muốn tiếp tục ở nhà trọ. Nay bà K xác định không còn tình cảm với ông Đ nên xin ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung tên Tạ Thiên V, sinh ngày 06/10/2021. Do ông Đ chở con chung đi chích ngừa rồi giữ luôn nên hiện nay con chung đang sống chung với ông Đ. Khi ly hôn bà K yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Về thu nhập trung bình của bà K là 15.000.000đ đến 20.000.000đ từ việc buôn bán online mỹ phẩm. Do chưa có nhà riêng nên khi được giao con chung thì bà cùng con sống chung ở nhà cha mẹ ruột của bà K. Về nợ chung: Không có. Về tài sản chung: không có, không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Tạ Thành Đ trình bày: Về quan hệ hôn nhân như bà K trình bày. Ông Đ xác định vợ chồng không có mâu thuẫn, ông vẫn đi làm kiếm tiền lo cho vợ con. Tối ông có đi uống cà fe nhưng vợ chồng vui vẻ với nhau ông mới đi. Ông và bà K đã sống ly thân từ tháng 10/2023 cho đến nay. Ông Đ xác định hiện nay hai vợ chồng không có tiếng nói chung. Mỗi lần nói chuyện là gây cãi. Tuy nhiên ông Đ không đồng ý ly hôn. Ông Đ muốn vợ chồng đoàn tụ để con chung có cả cha và mẹ. Trường hợp Tòa án cho ly hôn thì ông yêu cầu được nuôi con chung tên Tạ Thiên V, sinh ngày 06/10/2021. Do chưa có nhà riêng nên khi được giao nuôi con chung thì ông cùng con sống chung với cha mẹ ruột của ông Đ. Ông Đ không yêu cầu bà K cấp dưỡng nuôi con. Con chung chung sống với vợ chồng ở nhà trọ đến tháng 11/2023 thì do bà nội chăm sóc, ông Đ sáng đi làm chiều về. Thu nhập bình quân của ông Đ từ 9.000.000đ đến 10.000.000₫ do chạy xe dịch vụ. Về nợ chung: không có. Về tài sản chung: không có, không yêu cầu giải quyết. Ngoài ra ông không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.
Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng không thành nên đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt. Cả nguyên đơn và bị đơn đều không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào cần xem xét tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Quan hệ hôn nhân giữa bà Trịnh Đình K và ông Tạ Thành Đ có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Nay bà Trịnh Đình K yêu cầu ly hôn, ông Đ đang cư trú tại ấp A, xã T, huyện T, nên Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Ông Tạ Thành Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Đình K, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Bà K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Đ. Quá trình giải quyết vụ án ông Đ không đồng ý ly hôn.
Nhận thấy trong thời gian sống chung giữa bà K và ông Đ có xảy ra mâu thuẫn do không hợp tính tình. Thời gian gần đây thường xuyên xảy ra tranh cãi nhưng cả hai bên không tìm cách để giải quyết mâu thuẫn dẫn đến vào tháng 9/2023 bà K bỏ về bên ruột sinh sống; vợ chồng ly thân từ đó không ai còn quan tâm chăm sóc giúp đỡ nhau. Tòa án tiến hành hòa giải cho bà K và ông Đ trở về đoàn tụ đồng thời cho thêm thời gian để ông bà khắc phục tình trạng hôn nhân của mình, song cả hai đều không cố gắng hàn gắn, vẫn mạnh ai đó sống, không còn quan tâm tới nhau nữa. Tại phiên tòa ông Đ cũng vắng mặt cho thấy ông không còn thiết tha với mối quan hệ hôn nhân này. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, vợ chồng không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc nhau, không còn thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà K là phù hợp với Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về con chung: Bà K và ông Đ thống nhất có 01 con chung tên Tạ Thiên V, sinh ngày 06/10/2021. Hiện con chung đang do ông Đ nuôi dưỡng.
Xét thấy cả bà K và ông Đ đều trình bày có thu nhập ổn định nhưng cả hai đều không cung cấp tài liệu chứng minh; mặt khác trường hợp giao con chung cho bà K và ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng thì con chung sẽ sống chung với cha mẹ của bà K và ông Đ do cả hai đều chưa có nhà riêng. Như vậy về điều kiện vật chất và hoàn cảnh sống bà K và ông Đ đều như nhau. Tuy nhiên hiện nay con chung chưa đủ 36 tháng tuổi về nguyên tắc phải giao cho mẹ nuôi dưỡng hơn nữa khi bà K đến thăm con chung thì gia đình ông Đ có hành vi ngăn cản do đó HĐXX giao con chung cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp. Do con chung đang do ông Đ chăm sóc nên buộc ông Đ phải giao con chung cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà K không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà K và ông Đ xác định không có.
[3]. Về án phí: Bà K tự nguyện chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 227, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Đình K đối với ông Tạ Thành Đ.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Đình K được ly hôn với ông Tạ Thành Đ.
Về con chung: Giao con chung tên Tạ Thiên V, sinh ngày 06/10/2021 cho bà Trịnh Đình K trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi con chung đủ 18 tuổi.
Buộc ông Tạ Thành Đ phải giao con chung tên Tạ Thiên V, sinh ngày 06/10/2021 cho bà Trịnh Đình K trực tiếp nuôi dưỡng.
Mặc dù không trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nhưng ông Đ được quyền thăm, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Án phí: Bà Trịnh Đình K chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008053 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa sang án phí.
- Án xử sơ thẩm, đương sự vắng mặt không đồng ý thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hương |
Bản án số 26/2024/HNGĐ ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Đình K - Tạ Thành Đ
