|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HSST
Ngày 22/4/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Trĩnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Minh và bà Vũ Thị Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên: Ông Bùi Kim Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 22/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/HSST ngày 29/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 11/4/2024 đối với bị cáo: Lê Văn H, sinh năm 1985, giới tính: nam, tên gọi khác: không có. Nơi cư trú: Thôn M, xã S, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Dân tộc: Kinh, quốc tịch: Việt Nam, tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12, nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Lê Văn Đ, sinh năm: 1960 và bà: Nguyễn Thị C, sinh năm: 1961. Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Lưu Thị Thúy A, sinh năm: 1991. Có 03 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2018.
- Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Ông Lê Văn D, sinh năm: 1965 (có mặt).
- Anh Dương Hồng Q, sinh năm: 1988 (có mặt).
Đều trú tại: Thôn T, xã H, huyện K, Hưng Yên.
*/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn Đ, sinh năm: 1960 (vắng mặt).
Trú tại: Thôn M, xã S, huyện K, Hưng Yên.
- Ông Trần Văn T, sinh năm: 1984 (vắng mặt).
Trú tại: thôn L, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
- Anh Vũ Văn Q1, sinh năm: 1994 (vắng mặt).
Trú tại: 8 Đ, phường L, quận L, thành phố Hà Nội.
* Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm: 1961 (vắng mặt).
1
Trú tại: Thôn M, xã S, huyện K, Hưng Yên.
- Anh Ngô Phạm D1, sinh năm: 1985 (vắng mặt).
Đều trú tại: Thôn T, xã H, huyện K, Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Văn H, sinh năm 1985, hộ khẩu thường trú tại thôn M, xã S, huyện K, tỉnh hưng Yên, là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định và mắc hội chứng nghiện rượu.
Đêm ngày 09, rạng sáng ngày 10/7/2023, H một mình điều khiển xe mô tô, biển số 89H6 - 6816 đến quán Karaoke “A Đ1”, có địa chỉ tại thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên để thuê phòng hát nhưng quán đóng cửa. Lúc này H quan sát thấy trước cửa quán Karaoke “A Đ1” có để chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA RIO, biển số 29A-116.74 (là xe của ông Lê Văn D, sinh năm 1965, hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên). H nghĩ quán Karaoke “A Đ1” vẫn hoạt động nhưng không mở cửa cho H nên H bực tức và điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến khu vực phía trước cổng chùa T1 thuộc thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên, do vẫn bực tức trong người nên H nhặt 02 viên gạch (trong đó có 01 viên gạch chỉ còn nguyên và 01 viên gạch chỉ bị vỡ còn một nửa) để vào giữa khung xe và điều khiển xe mô tô quay trở lại trước quán Karaoke “A Đ1”. Tại đây H dùng tay phải cầm một nửa viên gạch ném vào kính chắn gió phía sau xe ô tô nói trên của ông D. Sau đó H điều khiển xe ô tô đi ra đường Q và rẽ trái đi về hướng thị trấn L. Khi đi đến đoạn đường cách Bệnh viện S khoảng 100 mét, H phát hiện bên phải chiều đi của mình có quán Karaoke “Gia H1” nên đã dừng lại và dựng xe ở rìa đường rồi đi bộ vào gọi cửa quán K “G” để thuê phòng hát nhưng không thấy ai mở cửa nên H quay lại vị trí để xe. Lúc này H thấy phía trước cửa nhà bên cạnh quán Karaoke “Gia Huy” có 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Vios, biển số 89A-107.54 (là xe của anh Dương Hồng Q, sinh năm 1988, hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên). H nghĩ là xe ô tô của chủ quán Karaoke “Gia Huy” nên đã dùng tay trái cầm viên gạch còn lại ném vào kính chắn gió phía sau chiếc xe ô tô nói trên của anh Q. Sau đó H điều khiển xe mô tô về nhà đi ngủ. Hậu quả làm kính chăn gió phía sau xe ô tô biển số 29A-116.74 và kính chăn gió phía sau xe ô tô biển số 89A-107.54 bị vỡ.
Ngày 11/7/2023, anh Dương Hồng Q và ông Lê Văn D có đơn trình báo đến Cơ quan điều tra về vụ việc nêu trên. Đồng thời ông D tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe ô tô, nhãn hiệu KIA RIO, biển số 29A-116.74, anh Q cũng tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Vios, biển số 89A-107.54 để phục vụ công tác điều tra.
Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Công an đã tiến hành kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc và thu giữ những vật chứng liên quan gồm: 01 viên gạch chỉ đỏ có kích thước (20x10x5)cm.
2
Tiến hành rà soát các đối tượng trên địa bàn, Cơ quan điều tra đã triệu tập Lê Văn H đến làm việc, Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Lê Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số 231/KL – KTHS(KTS) ngày 17/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh H đối với 03 đoạn video ghi lại hành vi nêu trên của Lê Văn H kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 03 file video nói trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 54/KL – HĐĐGTS ngày 19/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện K xác định: Giá trị của 01 chiếc kính chắn gió phía sau xe ô tô nhãn hiệu KIA loại RIO, nhập khẩu năm 2010, ngày 09/7/2023 là 2.500.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 55/KL – HĐĐGTS ngày 19/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện K xác định: Giá trị của 01 chiếc kính chắn gió phía sau xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Vios, sản xuất năm 2017, ngày 09/7/2023 là 2.400.000 đồng.
Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 469/KLGĐ ngày 02/01/2024, của V đối với Lê Văn H, kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định Lê Văn H có Hội chứng nghiện rượu, theo phân loại Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã F10.2. Tại các thời điểm trên đối tượng đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi sự việc xảy ra, H đã bồi thường cho ông D số tiền 4.000.000 đồng và bồi thường cho anh Q số tiền 2.500.000 đồng. Ông D và anh Q đã nhận đủ số tiền trên và tự nguyện không yêu cầu H phải bồi thường gì thêm, đồng thời xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho H.
Về vật chứng:
Đối với 01 viên gạch chỉ đỏ có kích thước (20x10x5)cm thu giữ trong quá trình kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, H dùng đập kính xe ô tô của anh Dương Hồng Q – Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng chờ xử lý.
Đối với viên gạch H sử dụng đập vỡ kính xe ô tô của ông Lê Văn D, khi ông D đến Công an xã H để trình báo vụ việc, ông D đã lấy viên gạch ra khỏi xe và vứt ở cầu ao trước cổng UBND xã H. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy nên không thu giữ được.
Đối với chiếc xe mô tô, biển số 89H6-6816 là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn Đ, sinh năm 1960, hộ khẩu thường trú tại thôn M, xã S, huyện K, tỉnh Hưng Yên (là bố đẻ của Lê Văn H), ông Đ không biết việc H sử dụng chiếc xe mô tô nói trên đi đập kính xe ô tô của anh Q và ông D nên không có căn cứ để xử lý đối với ông Đ và không tiến hành thu giữ, quản lý chiếc xe mô tô nói trên.
Đối với 01 chiếc xe ô tô, nhãn hiệu KIA RIO, biển số 29A-116.74 là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn D, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông D, ông D đã nhận lại tài sản của mình và không có yêu cầu đề nghị gì.
3
Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Vios, biển số 89A-107.54 là tài sản hợp pháp của anh Dương Hồng Q, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Q, anh Q đã nhận lại tài sản của mình và không có yêu cầu đề nghị gì.
Cáo trạng số 27/CT - VKSKC ngày 28/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo đều ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
- Bị hại ông Lê Văn D và anh Dương Hồng Q đều khẳng định đã nhận lại xe ô tô và nhận tiền bồi thường của bị cáo, cả hai không yêu cầu bồi thường thêm, đồng thời cả hai đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b; h; s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1; 2; 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự và hình phạt bổ sung: Không đặt ra giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a; c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu cho tiêu hủy 01 viên gạch chỉ đỏ có kích thước (20 x 10 x 5) cm.
Đối với viên gạch H sử dụng đập vỡ kính xe ô tô của ông Lê Văn D. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy, không thu giữ được nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với chiếc xe mô tô, biển số 89H6-6816 là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn Đ, ông Đ không biết việc H sử dụng chiếc xe mô tô nói trên đi đập kính xe ô tô của anh Q và ông D nên không có căn cứ để xử lý đối với ông Đ và không tiến hành thu giữ, quản lý chiếc xe mô tô nói trên.
Đối với 01 chiếc xe ô tô, nhãn hiệu KIA RIO, biển số 29A-116.74 là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn D và chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Vios, biển số 89A-107.54 là tài sản hợp pháp của anh Dương Hồng Q, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông D, anh Q. Ông D, anh Q đã nhận lại tài sản của mình và không có yêu cầu đề nghị gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động; Kiểm sát viên trong quá trình điều
4
tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cùng các chứng cứ tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa đã có đủ cơ sở kết luận:
Đêm ngày 09, rạng sáng ngày 10/7/2023, tại thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên, Lê Văn H dùng gạch ném vỡ kính chắn gió phía sau xe ô tô nhãn hiệu KIA RIO, biển số 29A-116.74 của ông Lê Văn D thiệt hại về tài sản là 2.500.000 đồng và dùng gạch ném vỡ kính chắn gió phía sau xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Vios, biển số 89A-107.54 của anh Dương Hồng Q, thiệt hại về tài sản 2.400.000 đồng. Tổng thiệt hại về tài sản do H gây ra đối với 02 chiếc xe ô tô nói trên là 4.900.000 đồng.
Căn cứ Kết luận giám định pháp y tâm thần số 469/KLGĐ ngày 02/01/2024, của V đối với Lê Văn H, kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định Lê Văn H có Hội chứng nghiện rượu, theo phân loại Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã F10.2. Tại các thời điểm trên đối tượng đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Căn cứ Điều 49 Bộ luật hình sự; Điều 5 Nghị định 64/2011/NĐ - CP, ngày 28/7/2011 của Chính phủ, quy định việc thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh Lê Văn H không thuộc trường hợp phải bắt buộc chữa bệnh. Căn cứ quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự, bị cáo vẫn phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà bị cáo thực hiện.
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, bị cáo đã dùng gạch chỉ đỏ cố ý đập vỡ, làm hư hỏng tài sản của người khác với tổng giá trị tài sản là 4.900.000 đồng. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng số 27/CT-VKSKĐ ngày 28/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kim Động truy tố bị cáo Lê Văn H về tội danh và điều luật hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
[4] Về tiền án, tiền sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội trong trường hợp ít
5
nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn xin được cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận, các bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b; h; s khoản 1 khoản 2 (02 tình tiết) Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[7] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo làm mất trật tự trị an, gây hoang mang dao động và bất bình trong quần chúng nhân dân. Chính vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo có nhân thân tốt, chỉ vì thiếu kiềm chế bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các lần phạm tội đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, với đặc điểm nhân thân, cùng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích, nên xét không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự, Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; điểm b “5” khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân tối cao để xử phạt bị cáo với hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
Ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho UBND xã nơi bị cáo thường trú, để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và phòng chống tội phạm nói chung.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
[8] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội và điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo nên xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho các bị hại là ông Lê Văn D và anh Dương Hồng Q, ông D, anh Q không yêu cầu bồi thường thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a; c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Đối với 01 viên gạch chỉ đỏ có kích thước (20 x 10 x 5) cm là công cụ phạm tội và là vật không có giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2024 của Công an huyện K).
6
Đối với viên gạch H sử dụng đập vỡ kính xe ô tô của ông Lê Văn D. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy, không thu giữ được nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với chiếc xe mô tô, biển số 89H6-6816 là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn Đ, ông Đ không biết việc H sử dụng chiếc xe mô tô nói trên đi đập kính xe ô tô của anh Q và ông D nên không có căn cứ để xử lý đối với ông Đ và không tiến hành thu giữ, quản lý chiếc xe mô tô nói trên.
Đối với 01 chiếc xe ô tô, nhãn hiệu KIA RIO, biển số 29A-116.74 là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn D và chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe Vios, biển số 89A-107.54 là tài sản hợp pháp của anh Dương Hồng Q, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông D, anh Q. Ông D, anh Q đã nhận lại tài sản của mình và không có yêu cầu đề nghị gì thêm nên không đặt ra giải quyết.
[11]. Về án phí: Bị cáo Lê Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
[12]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b; h; s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1; 2; 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
Xử phạt Lê Văn H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/4/2024.
Giao bị cáo cho UBND xã S, huyện K giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì căn cứ khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a; c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu cho tiêu hủy 01 viên gạch chỉ đỏ có kích thước (20 x 10 x 5) cm.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2024 của Công an huyện K).
3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án (22/4/2024), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
7
quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên;
- - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên
- - Viện kiểm sát, Công an huyện Kim Động;
- - Chi cục THADS huyện Kim Động;
- - Bị cáo; Bị hại;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- - UBND xã Song Mai; Hiệp Cường.
- - Lưu: Hồ sơ; Văn phòng Tòa án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đào Duy Trĩnh |
8
Bản án số 26/2024/HSST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN về cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 26/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản
