Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN K

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 26/2023/HS-ST

Ngày 21/8/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Pho.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Thanh Tòng.
  2. Ông Nguyễn Văn Đạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ý, Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thị Mộng T, sinh năm: 1985, tại: Huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú: Tổ 19, khu phố Kiên Tân, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thành Đô và bà Đoàn Thị Hương; chồng tên Bùi Văn Hữu; con 05 người, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 03/4/2023 sau đó chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Đại G, sinh năm: 1987. Nơi cư trú: Tổ 5, khu phố Hoà Lập, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)
  2. Trần Minh Q, sinh năm: 1997. Nơi cư trú: Tổ 1, khu phố Kiên Tân, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)

- Người chứng kiến:

  1. Phan Văn H, sinh năm: 1964. Nơi cư trú: Tổ 19, khu phố Kiên Tân, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)
  2. Lê Hoàng H, sinh năm: 1955. Nơi cư trú: Tổ 10, khu phố Ba Hòn, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 03/4/2023, Công an huyện K phát hiện bắt quả tang đối tượng Phạm Thị Mộng T thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý tại nhà ở thuộc tổ 19, khu phố Kiên Tân, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, thu giữ 01 bịch nylon màu trắng có nẹp gài, viền màu đỏ và 07 bịch nylon bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất (ghi là ma tuý), niêm phong gửi giám định. Kết quả giám định các hạt tinh thể màu trắng không đồng nhất đựng trong 08 bịch nylon là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám đình là 0,8961 gam.

Quá trình điều tra xác định vào khoảng 20 giờ ngày 22/3/2023, T gọi cho Bảo (không rõ nhân thân) qua ứng dụng mạng xã hội Zalo để mua 08 bịch ma tuý với số tiền 500.000 đồng, nhận ma tuý của Bảo xong T đem về nhà cất giấu. Vào khoảng 18 giờ ngày 25/3/2023, T mua ma tuý của đối tượng tên Đầu vàng (không rõ nhân thân) 08 bịch ma tuý với số tiền 600.000 đồng, nhận ma tuý xong T tiếp tục đem về nhà cất giấu, mục đích cất giấu là để bán lại cho các đối tượng nghiện sử dụng, cụ thể T đã bán cho các đối tượng sau:

  1. Vào ngày 31/3/2023, bán cho đối tượng không biết tên 01 bịch ma tuý với số tiền 200.000 đồng.
  2. Vào ngày 01/4/2023, bán cho đối tượng tên Vinh (không rõ nhân thân) 01 bịch ma tuý với số tiền 200.000 đồng.
  3. Vào khoảng 16 giờ ngày 02/4/2023, bán cho đối tượng Trần Minh Q 01 bịch ma tuý với số tiền 200.000 đồng.
  4. Vào khoảng 17 giờ ngày 02/4/2023, bán cho đối tượng Nguyễn Đại G 01 bịch ma tuý với số tiền 150.000 đồng.

Ngoài ra T đã sử dụng hết 04 bịch, còn lại 08 bịch bị Công an huyện K thu giữ khi bắt quả tang.

Số tiền thu lợi từ việc bán ma túy trước khi bị bắt đến thời điểm bị bắt quả tang là 750.000 đồng.

- Tại Bản kết luận giám định số 334/KL-KTHS ngày 10/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:

Mẫu cần giám định: 01 bì thư màu trắng được niêm phong, có các chữ ký ghi họ tên: Điều tra viên Nguyễn Văn Út, cán bộ tham gia Phạm Văn Chiến, người bị bắt Phạm Thị Mộng T, người chứng kiến Lê Hoàng H, Phan Văn H, Phó trưởng Công an thị trấn K đại uý Nguyễn Tiến Phước và đóng dấu tròn màu đỏ có nội dung “Công an thị trấn K, Công an huyện K, tỉnh Kiên Giang”, bên trong có 01 bịch nylon màu trắng có nẹp gài, viền màu đỏ và 07 bịch nylon màu trắng hàn kín, bên trong các bịch nylon đều có chứa các hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất.

Kết luận về đối tượng giám định: Các hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon màu trắng có nẹp gài, viền màu đỏ và 07 bịch nylon màu trắng hàn kín được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,8961 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang.

- Vật chứng trong vụ án:

Mẫu vật còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu gửi giám định được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu mẫu vật, vụ số 334/2023, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Nam, người chứng kiến niêm phong Hồ Hoàng An và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang. Khối lượng còn lại sau giám định là 0,8288 gam.

Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSKL ngày 12/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Phạm Thị Mộng T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị Mộng T mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.

Đề nghị buộc bị cáo T nộp số tiền thu lợi bất chính là 750.000 đồng.

Đề nghị xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và lời khai tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với vật chứng, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định:

Bị cáo Phạm Thị Mộng T đã nhiều lần mua ma túy đá (loại Methamphetamine) về bán lại 04 lần cho 04 đối tượng khác nhau trên địa bàn huyện K với số tiền từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng mỗi lần bán, tổng số tiền thu lợi bất chính là 750.000 đồng.

Như vậy, hành vi nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho người khác sử dụng nhằm thu lợi bất chính của Phạm Thị Mộng T đã đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung tăng nặng là phạm tội từ 02 lần trở lên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương, là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, tạo ra gánh nặng cho gia đình và xã hội. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bất chấp, cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo bị cáo biết tôn trọng pháp luật, thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Đối với Nguyễn Đại G và Trần Minh Q đã bị cơ quan Công an xử phạt hành chính mỗi đối tượng là 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật là phù hợp. Đối với người thanh niên tên Vinh và đối tượng mua ma tuý của T cơ quan Công an không xác định được lai lịch, nhân thân nên không có căn cứ xử lý, khi nào có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

[6] Về vật chứng: Bao gói đựng mẫu gửi giám định và mẫu vật còn lại sau giám định là ma túy, chất cấm lưu hành nên cần phải tịch thu, tiêu hủy.

[7] Buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 750.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Mộng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị Mộng T 07 (bảy) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/4/2023.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì có ký hiệu vụ số 334/2023, ngày 12/4/2023 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng Nam và người chứng kiến Hồ Hoàng An và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang. Vật chứng nêu trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/7/2023.

  • - Về số tiền thu lợi bất chính: Buộc bị cáo T nộp lại số tiền 750.000 đồng.
  • - Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Buộc Phạm Thị Mộng T phải nộp số tiền 200.000 đồng án phí.

  • - Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện K;
  • - Công an huyện K;
  • - Chi cục THADS huyện K;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Pho

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2023/HS-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 26/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Mộng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị Mộng T 07 (bảy) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/4/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger