Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST
Ngày 21 - 6 - 2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Huệ và Bà Bùi Thị Kim Loan;

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Lê - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thu Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2024/ TLST – HNGĐ ngày 22/01/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: anh Đỗ Xuân K, sinh năm 1986; nơi thường trú: tổ C, khu A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1986; nơi thường trú: tổ C, khu A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở hiện nay: tổ D, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/01/2024, lời tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Đỗ Xuân K đều trình bày: anh và chị Nguyễn Thị Thu T kết hôn vào năm 2016 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống cùng bố mẹ đẻ anh tại tổ C, khu A, phường C, thành phố C. Cuộc sống chung của vợ chồng anh sau kết hôn bình thường cho đến tháng 12/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do trong quá trình chung sống anh chị xảy ra cãi nhau, không kìm chế được bản thân anh có tát chị T một cái sau đó chị T không thông cảm cho anh mà bỏ về gia đình nhà ngoại ở. Bản thân anh thấy sai nên cũng đã đến xin lỗi chị T và gia đình nhà ngoại nhưng chị T không tha thứ cho anh. Sau thời gian đó anh phát hiện chị T đi theo đạo Thánh đức chúa trời, anh đã yêu cầu chị T từ bỏ đạo này để vợ chồng về chung sống với nhau, cùng nhau nuôi dạy các con nhưng chị T không đồng ý từ bỏ, do suy nghĩ và tư tưởng của hai vợ chồng không còn hoà hợp nên anh chị quyết định sống ly thân nhau từ cuối năm 2022 mỗi người ở một nơi, anh vẫn ở nhà cũ còn chị T về gia đình nhà ngoại ở, không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Mâu thuẫn vợ chồng anh cũng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không đạt kết quả. Đến nay tình cảm của anh dành cho chị T không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị T để ổn định cuộc sống.

+ Về con chung: anh và chị T có 02 con chung là là Đỗ Thanh S sinh ngày 08/5/2016 và Đỗ Thanh T1 sinh ngày 16/12/2020. Khi ly hôn anh muốn được trực tiếp nuôi cả hai con chung, anh không đồng ý để chị T nuôi con vì chị T đang theo đạo Thánh đức chúa trời, việc nuôi dưỡng con chung sẽ làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý, hệ tư tưởng và sự phát triển bình thường của các con chung. Chị T thường xuyên truyền đạo cho con, thời gian gần đây chị T vẫn cho con uống nước màu đỏ, vẫn cho con ăn bánh và nói là bánh của chúa, các nội dung này là do con trai lớn của anh chị kể lại với anh “mẹ dẫn con đến chỗ ở của mẹ, mẹ đóng chặt cả hai cửa, mẹ cầu nguyện và bảo con cầu nguyện nhưng con không cầu nguyện nên mẹ khóc, mẹ cho con uống nước màu đỏ, cho con ăn bánh màu xanh và nói bánh của chúa” nên anh thấy không yên tâm khi giao con chung để chị T nuôi dưỡng. Hiện tại anh có đầy đủ điều kiện để nuôi cả 02 con chung, anh có nhà riêng, công việc và thu nhập ổn định. Bố mẹ đẻ anh đã nghỉ hưu, có thể hỗ trợ anh trong việc thăm nom, chăm sóc con chung. Được nuôi cả hai con chung anh yêu cầu chị T cấp dưỡng cho mỗi con chung với mức 1.000.000đ/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

+ Về tài sản chung và vay nợ chung: anh chị không có tài sản chung và không vay nợ chung.

* Tại bản tự khai, phiên hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn chị Nguyễn Thị Thu T trình bày quan điểm như sau: về thời gian, điều kiện và hoàn cảnh kết hôn của vợ chồng chị đúng như anh K đã trình bày ở trên. Cuộc sống chung của anh chị sau kết hôn chỉ hạnh phúc được một năm đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị phát hiện anh K có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, chị cũng đã tha thứ cho anh K nhưng trong cuộc sống chung với gia đình nhà chồng anh K luôn nghe lời mẹ nên mối quan hệ của anh chị ngày càng rạn nứt. Anh chị đã nhiều lần nói chuyện với nhau nhưng tình hình không thay đổi, từ đầu năm 2022 tuy vẫn ở cùng một nhà nhưng anh K đã bỏ mặc vợ con, không quan tâm để ý đến con cái, vợ chồng không có sự chia sẻ với nhau, khi có mâu thuẫn xảy ra anh K không tìm biện pháp giải quyết nên mâu thuẫn kéo dài khiến cả hai hết tình cảm dành cho nhau. Việc anh K cho rằng chị theo đạo Thánh đức chúa trời là không đúng, chị không theo đạo nào cả, việc chị đọc Kinh Thánh ở sách không phải là theo đạo. Cuối năm 2022 khi mâu thuẫn xảy ra anh K tát chị khiến chị thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được nữa nên mới quyết định sống ly thân với anh K, chị đưa con về nhà ngoại ở. Đến nay mâu thuẫn của anh chị không thể khắc phục được, vợ chồng đã không còn tình cảm yêu thương dành cho nhau nên chị đồng ý ly hôn với anh K.

- Về con chung: chị và anh K có 02 con chung đúng như anh K đã khai ở trên. Trong quá trình giải quyết vụ án chị không đồng ý để anh K được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, chị muốn mỗi người nuôi một con chung, anh K được trực tiếp nuôi con chung Đỗ Thanh S, chị trực tiếp nuôi con chung Đỗ Thanh T1 vì cháu T1 còn nhỏ, lại là con gái nên cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Tại phiên tòa chị T thay đổi quan điểm, chị muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, chị không đồng ý để anh K nuôi dưỡng các con vì chị là giáo viên nên có thời gian để chăm sóc các con, việc giáo dục, dạy dỗ con sẽ đảm bảo hơn anh K, cả hai con chung còn nhỏ cũng cần chị quan tâm, chăm sóc. Thực tế chị không truyền đạo cho con, anh K trình bày về sự việc cháu S đến nhà chị và kể lại sự việc đóng cửa, bắt cầu nguyện, uống nước màu đỏ và ăn bánh của chúa là không đúng sự thật, chị chỉ đọc sách Kinh thánh vì chị học được những điều tốt đẹp ở đó, chị khẳng định không theo tôn giáo nào cả. Hiện nay chị làm giáo viên ở Trường Trung học phổ thông C, thu nhập bình quân một tháng từ 11 – 12 triệu đồng, chị cũng có nhà ở của gia đình nhà ngoại đảm bảo cho con phát triển tốt. Được nuôi cả hai con chung chị yêu cầu anh K cấp dưỡng cho mỗi con chung 1.000.000 đồng/tháng; trường hợp anh K được giao nuôi dưỡng cả hai con chung thì chị không đồng ý cấp dưỡng cho con chung vì anh chị ở gần nhau, chị có thể chủ động trong việc chăm lo cho con chung.

- Về tài sản chung và vay nợ chung: anh chị không có tài sản chung và không vay nợ chung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả có ý kiến cho rằng Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quan hệ tranh chấp và áp dụng các quy định của pháp luật giải quyết vụ án chính xác. Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị công nhận sự thuận tình ly hôn của anh K và chị T; về con chung: không chấp nhận giao cả hai con chung cho anh K hoặc chị T trực tiếp nuôi dưỡng, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung: Đỗ Thanh S cho anh K, Đỗ Thanh T1 cho chị T chăm sóc nuôi dưỡng để đảm bảo sự phát triển của các con chung; về tài sản và vay nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: anh Đỗ Xuân K yêu cầu xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu T hiện cư trú tại địa bàn thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

* Về quan hệ hôn nhân: cuộc hôn nhân giữa anh Đỗ Xuân K và chị Nguyễn Thị Thu T là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C vào năm 2016. Sau kết hôn, anh chị về sống cùng gia đình nhà nội tại tổ C, khu A, phường C, thành phố C. Anh chị đều khẳng định vợ chồng có mâu thuẫn, tình cảm cả hai dành cho nhau nhạt dần nên đỉnh điểm của mâu thuẫn xảy ra vào cuối năm 2022, do có va chạm trong sinh hoạt hàng ngày không kìm chế được bản thân anh K có tát chị T sau đó anh K có xin lỗi nhưng chị T không tha thứ và quyết định sống ly thân với anh K. Sau này anh K còn phát hiện chị T theo đạo Thánh đức chúa trời, suy nghĩ, tư tưởng của hai vợ chồng không còn phù hợp nên tình cảm của anh K dành cho chị T cũng không còn nên anh muốn được ly hôn. Chị T thì cho rằng do mất niềm tin vào tình cảm của anh K dành cho chị, mâu thuẫn kéo dài nên việc anh K tát chị vào năm 2022 khiến chị thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị không thể khắc phục được nữa nên chị quyết định sống ly thân và đến nay cũng đồng ý ly hôn. Lời khai của anh K và chị T về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn cơ bản phù hợp với kết quả thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của anh chị tại nơi cư trú và ý kiến của con chung của anh chị nên anh K và chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn là có cơ sở.

Căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh K và chị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh K đối với chị T.

+ Về con chung: anh Đỗ Xuân K và chị Nguyễn Thị Thu T có 02 con chung là Đỗ Thanh S, sinh ngày 08/5/2016 và Đỗ Thanh T1, sinh ngày 16/12/2020, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa cả hai đương sự không thoả thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi dưỡng các con sau khi ly hôn. Cả anh K và chị T đều có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai con chung và yêu cầu bên không trực tiếp nuôi con phải cấp dưỡng cho mỗi con chung là 1 triệu đồng/tháng, chị T không đồng ý cấp dưỡng nếu Toà án giao cho anh K nuôi dưỡng cả hai con chung. Anh K không đồng ý để chị T trực tiếp nuôi dưỡng các con chung vì cho rằng chị T theo đạo Thánh đức chúa trời, chị T thường xuyên truyền đạo cho các con, đã trực tiếp truyền đạo cho con trai lớn của anh chị đó là cháu Đỗ Thanh S khiến tâm lý của cháu sợ hãi, việc chị T bắt các con đọc kinh, cầu nguyện sẽ làm ảnh hưởng đến tâm lý, hệ tư tưởng và sự phát triển bình thường của các con sau này. Chị T không đồng ý với quan điểm của anh K, chị cũng muốn nuôi dưỡng cả hai con chung vì muốn các con được ở cùng với nhau, chị làm giáo viên nên hiểu tâm lý của các con và có nhiều thời gian chăm sóc các con hơn so với anh K. Việc anh K cho rằng chị theo đạo Thánh Đức chúa trời là không đúng, chị không truyền đạo cho con, từ khi sống ly thân với anh K đến nay chị đang nuôi dưỡng cháu Đỗ Thanh T1, cho đến nay cháu vẫn đang phát triển, khoẻ mạnh bình thường.

Do các đương sự có tranh chấp, Hội đồng xét xử xét thấy cả anh K và chị T đều đang trong độ tuổi lao động, có công việc và thu nhập ổn định, từ khi sống ly thân cho đến nay anh chị đều đảm bảo được việc nuôi dưỡng con chung phát triển bình thường, anh K cho rằng chị T theo đạo Thánh đức chúa trời tuy nhiên cho đến nay anh K cũng chưa chứng minh được hậu quả của việc chị T theo đạo này trong việc nuôi dưỡng con gái Đỗ Thanh T1. Bản thân các con chung của anh chị hiện cũng đã ổn định cuộc sống, sinh hoạt và học tập; cháu Đỗ Thanh S cũng có nguyện vọng được ở cùng với bố, cháu T1 là con gái lại còn nhỏ nên cũng cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Để đảm bảo quyền được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của các đương sự theo quy định của Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy việc giao cho anh K và chị T mỗi người nuôi dưỡng một con chung là phù hợp với điều kiện thực tế, khả năng nuôi dưỡng cũng như đảm bảo được các điều kiện cần thiết cho sự phát triển cho các con chung của anh chị khi ly hôn. Do vậy, cần thiết giao con chung là Đỗ Thanh S cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng vì con trai cần sự bảo ban, dạy dỗ của người bố; giao con chung Đỗ Thanh T1 cho chị T nuôi dưỡng vì con gái còn nhỏ cần có sự bảo ban, hướng dẫn của người mẹ. Do mỗi người nuôi dưỡng một con chung nên anh K va chị T không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con chung.

+ Về tài sản và công nợ chung: cả hai đương sự đều khẳng định không có tài sản và công nợ chung.

[3] Về án phí: anh Đỗ Xuân K phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa anh Đỗ Xuân K với chị Nguyễn Thị Thu T.

2. Về con chung: giao cho anh Đỗ Xuân K có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Đỗ Thanh S, sinh ngày 08/5/2016; giao cho chị Nguyễn Thị Thu T có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Đỗ Thanh T1, sinh ngày 16/12/2020, cho đến khi các con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Đỗ Xuân K và chị Nguyễn Thị Thu T không phải cấp dưỡng cho con chung và đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: anh Đỗ Xuân K phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh K đã nộp ngày 22/01/2024 theo biên lai số: 0002182 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn và bị đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Cẩm Phả;
  • - Chi cục THADS thành phố Cẩm Phả;
  • - UBND phường Cẩm Sơn, TP Cẩm Phả;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA – VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thị Quýnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh Đỗ Xuân K xin ly hôn chị Nguyễn Thị Thu T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger