TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HS-PT
Ngày: 21/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Huy Đức;
Các Thẩm phán: Ông Võ Nguyên Tùng và ông Nguyễn Việt Hùng;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 20/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Bích Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2024/HS-ST ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị Bích Q, sinh ngày 24/10/1988 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: thôn L, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn C, sinh năm 1964 và bà Lưu Thị G, sinh năm 1964; Có chồng: Lương Tấn T, sinh năm 1986 và 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại: Bà Dương Thị X, sinh năm 1973; cư trú tại: H L, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Bích Q là người làm thuê của Cơ sở kinh doanh dịch vụ vệ sinh công nghiệp H do anh Nguyễn Đăng Q1 làm chủ. Ngày 19/8/2023, Q được phân công cùng với Lê Thị Trúc U đến nhà chị Dương Thị X ở địa chỉ H L, Phường E, thành phố T dọn dẹp vệ sinh. Trong lúc Q dọn dẹp vệ sinh một mình tại phòng ngủ ở tầng 2, Q phát hiện chiếc vòng Ý vàng 18K của chị X đang để trên bàn, Q nảy sinh ý định trộm cắp nên đã lén lút lấy chiếc vòng vàng trên cất giấu vào trong túi quần rồi tiếp tục làm vệ sinh cho đến trưa rồi về. Chiều cùng ngày, Q đem chiếc vòng vàng trên đến tiệm V bán cho chị Diệp Thị N. Bà N không biết tài sản do Q trộm cắp có được và đã đồng ý mua chiếc vòng trên với giá 700.000 đồng, Q lấy tiền tiêu xài hết. Sau đó, bà N đã bán lại chiếc vòng vàng cho một người không xác định được địa chỉ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTS ngày 22/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T kết luận: 01 vòng Ý vàng 18K không gắn đá (mã sản phẩm GV0000W000138.530 của công ty cổ phần Đ – chi nhánh P), trọng lượng 22.646 phân, đã qua sử dụng từ ngày 27/8/2019 (tài sản chưa thu hồi) trị giá 7.966.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2024/HS-ST ngày 18/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Nguyễn Thị Bích Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; phạt: bị cáo Nguyễn Thị Bích Q 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/02/2024, bị cáo Nguyễn Thị Bích Q kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Bích Q vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ đã tuyên và giữ nguyên kháng cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 BLTTHS, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị Bích Q tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào sáng ngày 19/8/2023, bị cáo Nguyễn Thị Bích Q đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc vòng Ý vàng 18K của chị Dương Thị X trị giá 7.966.000 đồng, bán lấy tiền tiêu xài nên cấp sơ thẩm đã truy tố và xét xử bị cáo Nguyễn Thị Bích Q về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương nên cần xử phạt nghiêm. Tuy nhiên, xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng ly thân phải nuôi 02 con nhỏ còn đi học, cha bị cáo bị bệnh tai biến được chính quyền địa phương xác nhận; được bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng chính sách pháp luật hình sự quy định tại Điều 65 BLHS cũng đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Bị cáo kháng cáo được chấp nhận không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo – Sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Bích Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bích Q - 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Bích Q cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Bích Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Huy Đức |
Bản án số 26/2024/HS-PT ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 26/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Bích Q
