|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG Bản án số: 26/2025/KDTM-ST Ngày 31 tháng 10 năm 2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Yến - Ông Lê Thành Thật
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Tạ Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 20/2025/TLST-KDTM, ngày 11 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 263/2025/QĐXXST-KDTM, ngày 11/9/2025; quyết định hoãn phiên tòa số: 320/2025/QÐST-KDTM ngày 07/10/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q. Địa chỉ trụ sở chính: Số B, L, phường H, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Thanh H - Chủ tịch Hội đồng Quản trị.
- Bị đơn: Công ty TNHH S. Địa chỉ công ty: 892/45 Võ Văn H1, khóm B, phường B, tỉnh An Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lương Công D, sinh năm 1970.
- Bà Đặng Kim B, sinh năm 1978.
- Chị Lương Đặng Tường V2, sinh năm 2002. Vắng mặt.
- Anh Lương Đặng Hưng T1, sinh năm 2004. Vắng mặt.
- Ông Lương Minh T2, sinh năm 1978. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Thị Thanh H: Ông Nguyễn Hữu C - Phó Giám đốc Trung tâm kiêm Trưởng Phòng xử lý nợ M xử lý nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần Q. Văn bản ủy quyền số: 950/2024/UQ-CTHĐQT ngày 08/4/2024.
Người đại diện theo ủy quyền lại của ông Nguyễn Hữu C theo văn bản ủy quyền số: 2125/2025/UQ-BĐH.NCB, ngày 26/3/2025, gồm: Ông Trần Hoàng V - Trưởng Bộ phận xử lý nợ Trung tâm xử lý nợ. Địa chỉ liên lạc: 12B6 - A N, phường M, tỉnh Đồng Tháp; ông Trịnh Hữu T - Chuyên viên xử lý nợ Trung tâm xử lý nợ. Địa chỉ liên lạc: E T, phường R, tỉnh An Giang; ông Bùi Phúc V1 - Chuyên viên xử lý nợ Trung tâm xử lý nợ. Địa chỉ liên lạc: 78 - H T, phường N, Thành phố Cần Thơ. Ông T có mặt.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Thuận H2 - Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trương Thuận H2: Bà Trương Hoàng L, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khóm B, phường B, tỉnh An Giang. Văn bản ủy quyền ngày 30/7/2025. Có mặt.
Cùng địa chỉ: 8 V, khóm B, phường B, tỉnh An Giang. Người đại diện theo ủy quyền của ông Lương Công D, bà Đặng Kim B: Bà Trương Hoàng L, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khóm B, phường B, tỉnh An Giang. Văn bản ủy quyền ngày 30/7/2025. Có mặt.
Cùng nơi cư trú: 892/45 Võ Văn H1, khóm B, phường B, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa ông Trịnh Hữu T đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 20/12/2023 Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và Công ty TNHH S (sau đây gọi tắt là Công ty) ký hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 607/DN/2023/HĐHM-AGG. Ngân hàng cho công ty vay hạn mức tối đa 2.000.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn lưu động kinh doanh ngành thực phẩm; thời hạn tối đa mỗi khoản vay theo từng lần giải ngân trong hạn mức không vượt quá 09 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay được ghi trên từng giấy giải ngân kiêm khế ước nhận nợ. Theo đó, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty theo từng giấy nhận nợ, cụ thể như sau:
- Giấy giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 002/KUNN/607/DN/2023/HĐHM-AGG ngày 17/6/2024, Công ty vay 420.000.000 đồng;
- Giấy giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 003/KUNN/607/DN/2023/HĐHM-AGG ngày 19/6/2024, Công ty vay 400.000.000 đồng;
- Giấy giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 004/KUNN/607/DN/2023/HĐHM-AGG ngày 20/6/2024, Công ty vay 410.000.000 đồng;
- Giấy giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 005/KUNN/607/DN/2023/HĐHM-AGG ngày 24/6/2024, Công ty vay 487.000.000 đồng.
Cả 04 khoản vay theo các giấy giải ngân kiêm khế ước nhận nợ trên, lãi suất kỳ đầu tiên trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên 9,0%/năm; lãi suất áp dụng cho thời hạn tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức lãi suất vay trong hạn (LSV) = lãi suất tham chiếu + 1,5%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; lãi chậm trả lãi 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả.
Để bảo đảm khoản vay trên, ông Lương Công D và bà Đặng Kim B ký với Ngân hàng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 046/21/HĐTC-9236 ngày 13/7/2021. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 199,3m²; thửa đất số 107; tờ bản đồ số 53; mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị tọa lạc phường B, thành phố L, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 831701, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS08836 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho người sử dụng đất ông Lương Công D, bà Đặng Kim B ngày 30/12/2016. Hợp đồng thế chấp Văn phòng C1 chứng nhận ngày 13/7/2021 và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ chi nhánh L1 ngày 19/7/2021.
Ngày 13/7/2021 ông Lương Công D và bà Đặng Kim B ký văn bản thỏa thuận với Ngân hàng về nội dung trên thửa đất theo hợp đồng thế chấp có công trình xây dựng nhà ở riêng lẻ (chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu). Ông D và bà B xác nhận và cam kết toàn bộ tài sản trên đất thuộc sở hữu riêng, toàn bộ của bên thế chấp; ngày 18/12/2023 ông D và B tiếp tục ký biên bản thỏa thuận với Ngân hàng với nội dung đồng ý dùng tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp và công trình xây dựng trên đất của bên bảo đảm để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của bên vay là 2.000.000.000 đồng và toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ khoản vay (lãi, phí nếu có) theo hợp đồng tín dụng 607/DN/2023/HĐHM-AGG, ngày 20/12/2023.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng Công ty chỉ thanh toán cho Ngân hàng được 117.899.726 đồng, gồm nợ gốc 247 đồng, nợ lãi 117.899.479 đồng thì ngưng.
Do Công ty vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu Công ty S trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng tính đến ngày 31/10/2025 là 1.915.698.603 đồng (Một tỷ chín trăm mười lăm triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn sáu trăm lẻ ba đồng). Trong đó: Nợ gốc: 1.716.999.753 đồng; lãi trong hạn 10.640.684 đồng; lãi quá hạn 187.322.732 đồng; lãi chậm trả 735.434 đồng. Yêu cầu Công ty tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 01/11/2025 đến khi Công ty S trả hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký.
Trường hợp Công ty không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số: 046/21/HĐTC-9236, ngày 13/7/2021 để thu hồi nợ. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết nợ thì Công ty vẫn phải tiếp tục có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng.
Quá trình tố tụng bà Trương Hoàng L đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty S trình bày:
Bà đại diện theo ủy quyền của Công ty S thống nhất trình bày của đại diện theo ủy quyền Ngân hàng về việc Công ty S có ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản và các khế ước nhận nợ với Ngân hàng. Thừa nhận tính đến hết ngày 31/10/2025 Công ty S còn nợ Ngân hàng 1.915.698.603 đồng (Một tỷ chín trăm mười lăm triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn sáu trăm lẻ ba đồng), gồm nợ gốc và các khoản nợ lãi như Ngân hàng trình bày. Bị đơn đồng ý tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 01/11/2025 theo lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đến khi Công ty trả hết nợ cho Ngân hàng. Trường hợp Công ty không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Công ty đồng ý để Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số: 046/21/HĐTC-9236, ngày 13/7/2021 để thu hồi nợ.
Bà Trương Hoàng L đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Công D và bà Đặng Kim B trình bày:
Bà đại diện theo ủy quyền của ông Lương Công D và bà Đặng Kim B thống nhất trình bày của đại diện Ngân hàng về việc ông D, bà B có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 046/21/HĐTC-9236 ngày 13/7/2021 với Ngân hàng để bảo đảm khoản vay theo hợp đồng tín dụng số: 607/DN/2023/HĐHM-AGG ngày 20/12/2023. Trường hợp Công ty S không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ông D và bà B đồng ý để Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp trên để thu hồi nợ.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án ông Lương Minh T2, chị Lương Đặng Tường V2 và anh Lương Đặng Hưng T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Phiên tòa được mở lần thứ hai, ông T2, chị V2 và T1 tiếp tục vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của đương sự như sau: Thẩm phán chấp hành đúng quy định tại Điều 48 BLTTDS, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền tại khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS. Thủ tục tống đạt thực hiện đúng quy định tại Điều 171, 175, 177, 179 BLTTDS. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
* Ý kiến về nội dung vụ án, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q. Buộc Công ty TNHH S có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q tổng số tiền vốn, lãi tạm tính đến ngày 31/10/2025 là 1.915.698.603 đồng và nợ lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận đã ký kết đến khi thanh toán xong nợ vay.
Trường hợp Công ty TNHH S thanh toán không đầy đủ hoặc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đã ký.
Về án phí, chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Ngân hàng Thương mại cổ phần Q khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang) giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng với Công ty TNHH S. Bị đơn có địa chỉ kinh doanh tại phường B, tỉnh An Giang; nguyên đơn và bị đơn đều có đăng ký kinh doanh và có mục đích lợi nhuận, nên thuộc tranh chấp kinh doanh thương mại, Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Phiên tòa được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông Lương Minh T2, chị Lương Đặng Tường V2 và anh Lương Đặng Hưng T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do. Đương sự có mặt không yêu cầu hoãn phiên tòa. Xét thấy Tòa án đã thực hiện thủ tục tố tụng đúng quy định nên sự vắng mặt của người liên quan nêu trên không trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự trên theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hợp đồng tín dụng: Ngày 20/12/2023 Ngân hàng và Công ty ký hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 607/DN/2023/HĐHM-AGG, Ngân hàng cho công ty vay hạn mức tối đa 2.000.000.000 đồng. Theo đó, Ngân hàng giải ngân cho Công ty theo các giấy giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 002/KUNN/607/DN/2023/HĐHM-AGG ngày 17/6/2024, vay 420.000.000 đồng; giấy giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 003/KUNN/607/DN/2023/HĐHM-AGG ngày 19/6/2024, vay 400.000.000 đồng; giấy giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 004/KUNN/607/DN/2023/HĐHM-AGG ngày 20/6/2024, vay 410.000.000 đồng; giấy giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 005/KUNN/607/DN/2023/HĐHM-AGG ngày 24/6/2024, vay 487.000.000 đồng.
[2.2]. Về hợp đồng thế chấp: Để bảo đảm khoản vay trên, ông D và bà B ký với Ngân hàng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 046/21/HĐTC-9236 ngày 13/7/2021. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 199,3m²; thửa đất số 107; tờ bản đồ số 53; mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị tọa lạc phường B, thành phố L, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 831701, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS08836 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho người sử dụng đất ông Lương Công D, bà Đặng Kim B ngày 30/12/2016. Hợp đồng thế chấp Văn phòng C1 chứng nhận ngày 13/7/2021 và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ chi nhánh L1 ngày 19/7/2021.
Ngày 13/7/2021 ông Lương Công D và bà Đặng Kim B ký văn bản thỏa thuận với Ngân hàng về nội dung trên thửa đất theo hợp đồng thế chấp có công trình xây dựng nhà ở riêng lẻ (chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu). Bên thế chấp xác nhận và cam kết toàn bộ tài sản trên đất thuộc sở hữu riêng, toàn bộ của bên thế chấp; ngày 18/12/2023 ông D và B tiếp tục ký biên bản thỏa thuận với Ngân hàng về việc đồng ý dùng tài sản thế chấp trên và công trình xây dựng trên đất để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của bên vay là 2.000.000.000 đồng và toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ khoản vay theo hợp đồng tín dụng 607/DN/2023/HĐHM-AGG, ngày 20/12/2023.
[2.3]. Thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty chỉ thanh toán cho Ngân hàng được 247 đồng nợ gốc và 117.899.479 đồng nợ lãi thì ngưng. Do Công ty vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu Công ty S trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng tính đến ngày 31/10/2025 là 1.915.698.603 đồng (Một tỷ chín trăm mười lăm triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn sáu trăm lẻ ba đồng). Trong đó: Nợ gốc: 1.716.999.753 đồng; nợ lãi trong hạn 10.640.684 đồng; lãi quá hạn 187.322.732 đồng; lãi chậm trả 735.434 đồng. Yêu cầu Công ty tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 01/11/2025 đến khi Công ty S trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ đã ký. Đồng thời xử lý tài sản thế chấp nếu không trả nợ cho Ngân hàng trong quá trình thi hành án.
[2.4]. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty S thống nhất lời trình bày của đại diện nguyên đơn về việc Công ty S có xác lập hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ và ông D, bà B là người liên quan có ký hợp đồng thế chấp tài sản với Ngân hàng và thừa nhận tính đến ngày 31/10/2025 Công ty S còn nợ Ngân hàng nợ gốc và lãi là 1.915.698.603 đồng (Một tỷ chín trăm mười lăm triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn sáu trăm lẻ ba đồng). Đồng ý tiếp tục chịu lãi phát sinh theo yêu cầu của Ngân hàng đồng thời xử lý tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ. Tuy nhiên, Công ty đề nghị Ngân hàng xem xét giảm lãi quá hạn vì tình hình hoạt động của Công ty có khó khăn.Đại diện theo ủy quyền Ngân hàng không đồng ý giảm lãi quá hạn theo đề nghị của đại diện ủy quyền Công ty S. Các đương sự xác định hiện trạng tài sản thế chấp không thay đổi, phát sinh so với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ.
[3]. Qua lời trình bày của đại diện theo ủy quyền nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền bị đơn và xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy, các đương sự thống nhất với nhau về việc xác lập hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ và hợp đồng thế chấp tài sản cũng như Công ty S thừa nhận nợ gốc và nợ lãi như đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày. Bị đơn chỉ đề nghị giảm lãi quá hạn để sớm thanh toán nợ cho Ngân hàng, do hoạt động kinh doanh của Công ty có khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 607/DN/2023/HĐHM-AGG ngày 20/12/2023; các giấy giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 002/KUNN/607/DN/2023/HĐHM-AGG ngày 17/6/2024; giấy giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 003/KUNN/607/DN/2023/HĐHM-AGG ngày 19/6/2024; giấy giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 004/KUNN/607/DN/2023/HĐHM-AGG ngày 20/6/2024; giấy giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 005/KUNN/607/DN/2023/HĐHM-AGG ngày 24/6/2024; hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 046/21/HĐTC-9236 ngày 13/7/2021 Văn phòng C1 chứng nhận ngày 13/7/2021, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ chi nhánh L1 ngày 19/7/2021; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 831701, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS08836 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho ông Lương Công D, bà Đặng Kim B ngày 30/12/2016; biên bản ba bên ngày 20/12/2023 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (là bên nhận bảo đảm) với ông Lương Công D và bà Đặng Kim B (là bên bảo đảm) và Công ty TNHH S (là bên có nghĩa vụ được bảo đảm) để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q buộc Công ty S trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng tính đến ngày 31/10/2025 là 1.915.698.603 đồng (Một tỷ chín trăm mười lăm triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn sáu trăm lẻ ba đồng). Trong đó: Nợ gốc: 1.716.999.753 đồng; lãi trong hạn 10.640.684 đồng; lãi quá hạn 187.322.732 đồng; lãi chậm trả 735.434 đồng. Công ty S tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 01/11/2025 đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký.
Đối với ý kiến bị đơn đề nghị Ngân hàng giảm lãi quá hạn, Ngân hàng không chấp nhận nên Hội đồng xét xử không có căn cứ giải quyết.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp để thi hành án nếu bị đơn không thanh toán nợ. Xét thấy, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên có công chứng, đăng ký thế chấp đúng quy định về đăng ký thế chấp, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án.
Về việc ông T2, chị Tường V2 và anh T1 sinh sống trên tài sản thế chấp. Xét thấy, theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/6/2025 ông Lương Công D trình bày tài sản trên đất do ông D và bà B xây cất, ông Lương Minh T2 ở nhờ trong nhà của ông bà, còn chị Tường V2 và anh T1 là con sống cùng ông bà.
[4]. Về chi phí tố tụng: Ngân hàng đã tạm nộp 2.000.000 đồng chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp, số tiền thực chi 1.200.000 đồng, đã hoàn lại Ngân hàng 800.000 đồng. Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên Công ty S có nghĩa vụ hoàn lại Ngân hàng 1.200.000 đồng.
[5]. Về án phí: Công ty S có nghĩa vụ chịu 69.471.000 đồng án phí trên số tiền có nghĩa vụ trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Q 1.915.698.603 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; các Điều 317, 318, 319, 320, 322, 323, 463, 466; Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 6; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2; Điều 6; Điều 7; Điều 7a; Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q đối với Công ty TNHH S.
Buộc Công ty TNHH S có nghĩa vụ trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Q nợ gốc và lãi tính đến ngày 31/10/2025 là 1.915.698.603 đồng (Một tỷ chín trăm mười lăm triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn sáu trăm lẻ ba đồng). Trong đó: Nợ gốc: 1.716.999.753 đồng; lãi trong hạn 10.640.684 đồng; lãi quá hạn 187.322.732 đồng; lãi chậm trả 735.434 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (31/10/2025) Công ty TNHH S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà Công ty TNHH S vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp Công ty TNHH S không thanh toán nợ hoặc thanh toán nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 046/21/HĐTC-9236 ngày 13/7/2021. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 199,3m²; thửa đất số 107; tờ bản đồ số 53; mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị tọa lạc phường B, thành phố L, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 831701, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS08836 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho người sử dụng đất ông Lương Công D, bà Đặng Kim B ngày 30/12/2016. Hợp đồng thế chấp Văn phòng C1 chứng nhận ngày 13/7/2021 và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ chi nhánh L1 ngày 19/7/2021 để thu hồi nợ.
Trường hợp tài sản bảo đảm vẫn không đủ để Ngân hàng Thương mại cổ phần Q thu hồi nợ thì Công ty TNHH S vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Về chi phí tố tụng: Công ty TNHH S có nghĩa vụ hoàn lại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (Một triệu hai trăm nghìn đồng) chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp.
Về án phí: Công ty TNHH S chịu 69.471.000đ (Sáu mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi một nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Q được nhận lại 31.927.000đ (Ba mươi một triệu chín trăm hai mươi bảy nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002676, ngày 09/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 - Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).
Quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q, Công ty TNHH S và ông Lương Công D và bà Đặng Kim B được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Ông Lương Minh T2, chị Lương Đặng Tường V2 và anh Lương Đặng Hưng T1 vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuậnn thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi gởi:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Hoa |
Bản án số 26/2025/KDTM-ST ngày 31/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 26/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc Công ty TNHH LMS có nghĩa vụ trả Ngân hàng TMCP QD nợ gốc và lãi tính đến ngày 31/10/2025 là 1.915.698.603 đồng. Tiếp tục chịu lãi phát sinh và xử lý tài sản thế chấp nếu không trả hết nợ.
