TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/DS-ST
Ngày: 19-6-2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền trên đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Huỳnh Liêm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoà
Ông Thạch Thanh Long
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nhung, Thẩm tra viên Toà án nhân
dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 153/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản và yêu cầu di dời tài sản gắn liền trên đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Cao Văn D, sinh năm 1968 (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1967 (có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trương Thị N, sinh năm 1973 (có mặt)
- Anh Cao Hoàng Â, sinh năm 2007 (có đơn xin vắng)
Địa chỉ: ấp L, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Cao Văn K, sinh năm 1970; địa chỉ: Khóm C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh, theo văn bản uỷ quyền ngày 13/6/2025 (có mặt).
Bà Nguyễn Thị Lệ H1, sinh năm 1976 (có mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Cùng địa chỉ: ấp L, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp cho bà Trương Thị N: Ông Cao Văn K, sinh năm 1970; địa chỉ: Khóm C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh, theo văn bản uỷ quyền ngày 13/6/2025 (có mặt)
- Ông Cao Văn T, sinh năm 1969 (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1959 (có mặt)
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1962 (có đơn xin vắng)
Địa chỉ: ấp L, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Địa chỉ: ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/11/2023 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Cao Văn D do ông Cao Văn K làm đại diện trình bày: Nguyên thửa đất số 664 tờ bản đồ số 6, diện tích 1450m², tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/07/1996 cho hộ ông Cao Văn D đứng tên. Nguồn gốc thửa đất trước đây là một dây đất của đời ông cố tên Nguyễn Văn N1 để lại cho ông bà nội của ông D tên Cao Văn T2, Nguyễn Thị T3, sau khi vợ chồng ông T2 chết (không nhớ năm nào) thì bác hai ông D tên Cao Văn T4 (con ông T2) đứng ra quản lý, kê khai. Khoảng năm 1996 ông T4 chia lại cho 04 anh em ruột gồm: Cao Văn T4, Cao Văn P, Cao Văn Đ (cha ông D) và Cao Thị B mỗi người một phần. Trong đó, phần của ông Cao Văn Đ (cha ông D) được ông T4 chia cho một phần đất gắn liền nền mộ nhưng do trước đó cha ông D chết năm 1968 nên ông T4 để cho ông D được thừa kế kê khai, đứng tên quyền sử dụng đất.
Quá trình sử dụng đất này trước khi ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do ông T4 quản lý sử dụng đã có khuôn mộ của dòng họ. Năm 1983 ông H lập gia đình sống bên vợ tại ấp L, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh, khi ông D được ông T4 cho đất không về quản lý được nên cho ông Cao Văn T (bà con chú bác với ông D) quản lý để trồng lác.
Ngày 11/09/2020 ông D yêu cầu Phòng Tài nguyên môi trường xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới, khi đến khảo sát đo đạc thửa đất 664 thì vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Lệ H1 ngăn cản, cho rằng đất này đã nhận chuyển nhượng từ ông Cao Văn T và hiện ông H đang quản lý, sử dụng. Ngoài ra, ông H còn xây dựng hàng rào bao khu mộ và trồng dừa phần còn lại, việc ông H và ông T thỏa thuận mua bán đất này thế nào trước đó ông D hoàn toàn không hay biết, không thông qua ông D nên phát sinh tranh chấp cho đến nay.
Nay ông D yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ H1 di dời các cây dừa để trả lại cho gia đình ông thửa đất số 664, tờ bản đồ số 6, diện tích 1450 m² tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh, đối với hàng rào ông H xây dựng bao khu mộ ông bà thì giữ nguyên trạng.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 14 tháng 5 năm 2025 và trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ H1 cùng trình bày: Trước đây ông Cao Văn T (bà con chú bác họ với ông D) có thiếu nợ tiền ngân hàng N3 nên nhờ ông Bùi Văn C1 mượn của vợ chồng tôi số tiền 25.000.000 đồng cho ông T để đáo nợ ngân hàng, sau khi ông T đáo nợ cho ngân hàng thì ngân hàng không cho vay lại nên ông T kêu ông C1 bán đất để trừ nợ, sau đó ông C1 mới kêu vợ chồng tôi xuống xem đất của ông T kêu bán để mua trừ nợ. Vợ chồng tôi đến gặp trực tiếp ông T và ông T chỉ đất có khu mộ nên chúng tôi thống nhất làm giấy viết tay mua bán với ông T và vợ chồng tôi với ông T, ông C1 tiến hành đo đất xác định trị giá đất là 44.200.000 đồng (tương đương 30.000.000 đồng/1000m²), xong vợ chồng tôi hỏi sổ đỏ đất này của ông T đâu thì ông T nói giấy đỏ đã cầm cố cho một người (không biết tên) ở xã Đ 10.000.000 đồng nên vợ chồng tôi đưa tiếp cho ông T số tiền 10.000.000 đồng để chuộc lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đem cho vợ chồng tôi giữ. Khi lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về thì vợ chồng tôi phát hiện đất mua của ông T là thửa đất số 664, tờ bản đồ số 6, diện tích 1450m², tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh do ông D đứng tên quyền sử dụng đất nên vợ chồng tôi với ông T bỏ hợp đồng mua bán đất trước đó, làm lại tờ sang nhượng đất mới vào ngày 09/11/2007 thoả thuận ghi trong hợp đồng nếu ông T không sang tên đất này được cho vợ chồng tôi thì ông T phải đo đất khác trả đủ với số tiền cho vợ chồng tôi. Sau khi làm hợp đồng xong, ông T giao đất cho vợ chồng tôi sử dụng và sau đó ông T kêu vợ chồng tôi đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 664 và số tiền chuyển nhượng còn lại 9.200.000 đồng cho ông T để gặp ông D làm thủ tục sang tên cho vợ chồng tôi. Sau khi vợ chồng tôi đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T thì ông T cứ hẹn nói chưa làm được cho đến khi ông T bể nợ bỏ địa phương đi cho đến nay không làm thủ tục sang tên đất cho vợ chồng tôi.
Trước khi vợ chồng ông sử dụng đất thì trên đất có nhiều ngôi mộ của dòng họ đời ông cố và có hàng rào chì gai bao quanh khu mộ còn lại vợ chồng tôi trồng lác một phần, phần giáp ông T5 là đất gò không có trồng lác mà chỉ trồng dừa. Đến đầu năm 2020 vợ chồng tôi cùng anh em ruột ông Nguyễn Văn C và ông Nguyễn Văn T1 dỡ bỏ rào cũ, cùng nhau hùn tiền làm lại rào bê tông cốt thép bao quanh khu mộ hết 130.000.000 đồng. Ngoài ra, không có tôn tạo gì thêm.
Nay vợ chồng tôi không yêu cầu phản tố, chỉ yêu cầu xem xét giải quyết yêu cầu ông D và ông T phải có trách nhiệm tách thửa sang tên cho vợ chồng tôi phần đất khu mộ diện tích 334m² và lối đi 64,7m² trong tổng diện tích 1450m², thuộc một phần thửa số 664, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Trường hợp ông D và ông T không sang tên cho vợ chồng ông thì chúng tôi ông yêu cầu ông D phải trả thành quả xây dựng tường rào 130.000.000 đồng và giá trị cây trồng theo kết quả định giá và tiền chuyển nhượng còn đối với chuyển nhượng giữa chúng tôi với ông T chúng tôi sẽ yêu cầu sau vụ kiện. Ngoài ra, ông D không được cản trở thân tộc trong việc chăm sóc mồ mả trong khu đất này.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 07/3/2024 và quá trình tham gia tố tụng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn T trình bày: Nguồn gốc thửa đất tranh chấp thửa số 664, tờ bản đồ số 6, diện tích 1450m², tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh là của ông nội tên Cao Văn T2 cho con là Cao Văn Đ1 (cha ông D) để thừa kế cho ông D đứng tên quyền sử dụng đất. Do ông D bỏ địa phương tên ông mới sử dụng thửa đất số 644 và có đóng thuế. Đến khi cơn bão số 9 khoảng năm 2008 thì mẹ ông D tên Sáu N2 (không rõ họ tên) lên gặp ông lấy tiền bán đất cho ông nhưng do ông không có tiền nên ông hỏi vay tiền của vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Lệ H1 một lần 14.000.000 đồng cho mẹ ông D để làm đám cưới cho ông D và lần hai vay 13.000.000 đồng ông đưa cho ông D trị bệnh do tai nạn xe, việc giao tiền không có làm giấy tờ gì vì là anh em với nhau. Sau khi vay do không có khả năng đóng lãi nên năm 2007 ông mới làm hợp đồng viết tay chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 664 do ông D đứng tên cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Lệ H1 và giao đất cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Lệ H1 sử dụng để không tính lãi sử dụng phần đất này từ đó đến nay. Sau khi làm hợp đồng ông có đến gặp ông D để làm thủ tục sang tên thì ông D không đồng ý vì cho rằng đất hiện nay đang lên giá.
Nay ông thống nhất tách một phần đất có mồ mả của ông bà chung diện tích khoảng 450m² trong tổng diện tích 1450m², thửa số 664, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho vợ chồng ông H để trừ tiền ông vay của ông vợ chồng ông H cho ông D, phần diện tích còn lại trả cho ông D. Ngoài ra ông không có yêu cầu gì thêm.
Ý kiến của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Càng Long: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72,73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Cao Văn D. Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ H1 trả lại thửa đất số 664, tờ bản đồ số 6 diện tích thực đo 1.497,6m² tọa lạc ấp Đ, xã Đ huyện C tỉnh Trà Vinh cho ông Cao Văn D. Buộc ông Cao Văn D trả lại giá trị cây trồng cho ông H và bà Hằng số tiền theo biên bản định giá.
Dành cho ông H và bà H1 vụ kiện khác về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông T khi có tranh chấp yêu cầu.
Ông D không được ngăn cản gia đình thân tộc trong việc thăm viếng, tu sửa, sử dụng lối đi và diện tích nền mộ theo sơ đồ khu đất.
Các bên đương sự phải chịu chi phí khảo sát, định giá và án phí theo quy định pháp luật, trừ trường hợp được miễn.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Văn D yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ H1 di dời các cây dừa để trả lại cho gia đình ông D sử dụng thửa đất số 664, tờ bản đồ số 6, diện tích 1450m², tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh, quá trình tố tụng bị đơn không phản tố chỉ yêu cầu xem xét được đứng tên khuôn viên mộ và lối đi vào mộ nằm trong một phần đất tranh chấp để trừ tiền chuyển nhượng và giá trị tài sản trên đất. Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ pháp luật là “Tranh chấp đòi lại tài sản và yêu cầu di dời tài sản gắn liền trên đất” theo Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Càng Long theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 236 của Luật đất đai 2024.
[2] Về các đương sự tham tố tụng: Quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Văn H khai chi phí xây dựng khu mộ trên đất tranh chấp số tiền 130.000.000 đồng có sự đóng góp tiền để xây dựng của ông Nguyễn Văn C và ông Nguyễn Văn T1 nên Hội đồng xét xử cần đưa bổ sung thêm ông C và ông T1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nhưng do ông C và ông T1 không có chứng cứ gì phát sinh thêm và đều có lời khai thống nhất cho vợ chồng ông H, bà H1 tự quyết định giải quyết tranh chấp nên không cần thiết phải tiến hành công khai chứng cứ và hoà giải lại mà tiếp tục xét xử vẫn đảm bảo quyền, nghĩa vụ cho các bên.
[3] Theo biên bản xác minh ngày 24/5/2024 của ông Nguyễn Văn P1, biên bản lấy lời khai ngày 08/5/2025 của ông Cao Văn D, biên bản lấy lời khai ngày 07/3/2024 của ông Cao Văn T và theo Công văn số 309/CNHCL ngày 13/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C xác định, nguồn gốc thửa đất số 664, tờ bản đồ số 6, diện tích 1450m² (thực đo diện tích 1.497,6m²), loại đất NĐ, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh trước đây thuộc một phần dây đất của cụ Nguyễn Văn N1 để lại cho vợ chồng cụ Cao Văn T2, cụ Nguyễn Thị T3 (ông bà nội của ông Cao Văn D) quản lý. Sau khi vợ chồng cụ T2 qua đời thì con ông T2 tên Cao Văn T4 tiếp tục quản lý, đăng ký kê khai năm 1983. Đến năm 1996 ông T4 phân chia dây đất này cho 04 anh em ruột gồm: ông Cao Văn T4, ông Cao Văn P, ông Cao Văn Đ (cha ông D) và bà Cao Thị B (hiện nay những người này đã qua đời) mỗi người một phần và đã sang tên xong. Trong đó, phần đất của ông Cao Văn Đ được ông T4 chia cho một phần đất có gắn liền nền mộ (có khoảng 15 ngôi mộ thân tộc và một số mộ đã được người thân bóc cốt) thuộc thửa đất số 664 tờ bản đồ số 6, diện tích 1450m², loại đất NĐ, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh, nhưng do ông Đ đã qua đời (chết năm 1968) nên ông T4 để cho ông Cao Văn D (con ông Đ) kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996 cho hộ ông Nguyễn Văn D1 đứng tên. Quá trình kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này không ai phát sinh tranh chấp gì.
[4] Nội dung vụ án: Sau khi ông D1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 664 vào năm 1996, ông D1 chưa sử dụng do ông D1 lập gia đình sống bên vợ ở thị xã D, tỉnh Trà Vinh nên ông D1 giao đất cho ông Cao Văn T (bà con chú bác) sử dụng để trồng lát (việc cho sử dụng chỉ nói miệng không làm giấy tờ gì). Quá trình sử dụng, ngày 09/11/2007 ông T làm giấy tay chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 664 cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ H1 với số tiền 44.200.000 đồng và ông T giao đất cho vợ chồng ông H, bà H1 sử dụng cho đến nay. Quá trình vợ chồng ông H, bà H1 sử dụng có trồng cây dừa, cây chuối và cùng với ông Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Văn T1 là anh em ruột xây lại hàng rào tường bao quanh khu mộ của ông bà chung. Đến năm 2020 khi ông D1 tiến hành làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xuống thửa đất số 664 để đo đạc thì vợ chồng ông H, bà H1 ngăn cản và yêu cầu ông D1 và ông T phải sang tên cho vợ chồng ông H, bà H1 đứng tên phần khu mộ và lối đi vào mộ trước cổng khu mộ để trừ số tiền chuyển nhượng thửa đất này giữa vợ chồng ông H, bà H1 với ông T nhưng ông D1 không đồng ý vì không có chuyển nhượng thửa đất này cho ông T và vợ chồng ông H, bà H1 nên phát sinh tranh chấp.
[5] Xét về việc chuyển nhượng đất thửa 664 giữa vợ chồng ông H, bà H1 với ông T thấy rằng, việc ông Thành L giấy tay ngày 09/11/2007 có nội dung chuyển nhượng thửa đất số 664 cho vợ chồng ông H, bà H1 với giá 44.200.000 đồng nhưng không có thể hiện nội dung nào được sự đồng ý của ông D1. Qua đó, theo lời khai của vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Lệ H1 khai: Trước khi nhận chuyển nhượng đất thửa 664, ông T có nợ tiền ngân hàng N3 không biết bao nhiêu. Sau đó ông T nhờ ông Bùi Văn C1 (nay đã chết) mượn tiền của vợ chồng ông H, bà H1 25.000.000 đồng cho ông T để đáo nợ ngân hàng, sau khi ông T đáo nợ cho ngân hàng thì ngân hàng không cho vay lại nên ông T kêu ông C1 bán đất để trừ nợ, sau đó ông C1 mới kêu vợ chồng ông H, bà H1 xuống xem đất của ông T kêu bán để trừ nợ. Khi vợ chồng ông H, bà H1 đến gặp trực tiếp ông T thì ông T chỉ miếng đất trong đó có khu mộ của ông bà thì vợ chồng ông H, bà H1 đồng ý nhận chuyển nhượng với ông T có làm hợp đồng viết tay chuyển nhượng đất giá đất là 44.200.000 đồng. Đến khi ông T giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới phát hiện ông D1 đứng tên nên mới làm lại giấy hợp đồng viết tay mới ngày 09/11/2007 nội dung thoả thuận ghi trong hợp đồng nếu không sang tên thửa đất 664 được cho vợ chồng ông H, bà H1 thì ông T phải đo đất khác trả đủ với số tiền cho vợ chồng vợ chồng ông H, bà H1. Sau khi làm hợp đồng xong ông T giao đất cho vợ chồng ông H, bà H1 sử dụng từ đó cho đến nay. Còn ông T thì cho rằng, khoảng năm 2008 mẹ ông D1 tên Sáu N2 (không rõ họ tên) lên gặp ông T lấy tiền chuyển nhượng đất do trước đó ông D1 có hứa chuyển nhượng đất cho ông T nhưng do ông T không có tiền nên ông T vay tiền của vợ chồng ông H, bà H1 một lần 14.000.000 đồng cho mẹ ông D1 để làm đám cưới cho ông D1 và lần hai vay 13.000.000 đồng ông T đưa cho ông D1 trị bệnh do tai nạn xe, nhưng việc hứa chuyển nhượng và giao tiền trên không có làm giấy tờ gì vì là anh em với nhau. Sau khi vay do không có khả năng đóng lãi nên năm 2007 ông T mới làm hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 664 do ông D1 đứng tên cho vợ chồng ông H, bà H1 và giao đất cho vợ chồng ông H, bà H1 sử dụng để không tính lãi. Sau khi làm hợp đồng ông T có đến gặp ông D1 để làm thủ tục sang tên thì ông D1 không đồng ý vì cho rằng đất hiện nay đang lên giá. Như vậy, số tiền chuyển nhượng giữa vợ chồng ông H, bà H1 với ông T khai chưa thống nhất trong việc giao nhận. Trong quá trình tố tụng, ông T, ông H, bà H1 cũng không có giấy tờ gì để chứng minh ông D1 có chuyển nhượng và nhận tiền chuyển nhượng thửa đất 664 này. Từ đó, ông D1 không thừa nhận về việc chuyển nhượng và nhận tiền chuyển nhượng trên là có cơ sở. Như vậy, việc ông Thành lập giấy tay ngày 09/11/2007 chuyển nhượng thửa đất số 664 do hộ ông D1 đứng tên cho vợ chồng ông H, bà H1 mà chưa có sự đồng ý của ông D1 là vi phạm pháp luật quy định tại Điều 106 Luật đất đai 2003 vì ông T không phải là chủ sử dụng đất để chuyển nhượng. Do đó, ông D1 yêu cầu ông H, bà H1 trả thửa đất số 664 cho hộ ông D1 quản lý sử dụng là có căn cứ.
[6] Quá trình giải quyết, ông D1 thừa nhận có mượn ông T số tiền 3.500.000 đồng để điều trị bệnh do bị tai nạn nhưng ông T không yêu cầu giải quyết số tiền này và ông H, bà H1 không có yêu cầu phản tố buộc ông T trả số tiền chuyển nhượng 44.200.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét mà dành cho các bên một vụ kiện khác khi có yêu cầu giải quyết về số tiền trên.
[7] Xét về yêu cầu của ông H, bà H1 xin được đứng tên để quản lý sử dụng phần đất khu mộ theo đo đạc diện tích 334m² và lối đi vào mộ diện tích 64,7m² nằm trong tổng diện tích 1450m², thuộc một phần thửa số 664, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh để cấn trừ toàn bộ số tiền chuyển nhượng và giá trị tài sản trên đất với lý do ông H cho rằng, nguồn gốc đất thửa số 664 là của ông cố ông tên Nguyễn Văn N1 để lại không cho ai đứng tên mà chỉ dùng để chôn cất người thân tộc nhưng thực tế ông D1 có kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không ai tranh chấp, ông H không có giấy tờ nào khác để chứng minh về nguồn gốc đất. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng, các bên đều thừa nhận của nguồn gốc đất này của ông bà để lại mục đích dùng để chôn cất người qua đời trong thân tộc nên được Nhà nước cấp loại đất nghĩa địa, khi ông D1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay, trên đất vẫn còn nhiều mồ mả của thân tộc bên ông D1 và bên ông H. Do đó, khi buộc ông H, bà H1 trả đất lại cho ông D1 sử dụng thì hộ ông D1 phải có nghĩa vụ gìn giữ, trông nom mồ mả trong khuôn viên mộ, không được cản trở các thân tộc có mồ mả trong khuôn viên mộ trong việc tảo mộ (thăm viếng, dọn dẹp, sửa sang và thắp hương tại phần mộ của tổ tiên, người thân đã khuất). Ngoài ra, từ khi ông D1 được đứng tên quyền sử dụng đất đến nay, ông D1 không có sử dụng đất này, mà do vợ chồng ông H, bà H1 quản lý, gìn giữ và đã xây lại hàng rào tường bao quanh khu mộ và trồng cây dừa, cây chuối xung quanh trên thửa đất 664 nhưng ông D1 không có ý kiến hay ngăn cản gì. Dó đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xem xét đến công sức quản lý, gìn giữ đất bằng 10% tổng giá trị đất tương số tiền 52.416.000.000 đồng (diện tích thực đo 1.497,6m² x 350.000 đồng/m² x 10%) và giá trị tài sản trên đất số tiền 68.752.400 đồng [bao gồm: dừa 20 cây x 750.000 đồng/cây = 15.000.000 đồng; 10 bụi chuối x 40.000 đồng/bụi = 400.000 đồng và tường rào, 02 cửa rào (không tính một bên hàng rào tường nằm hướng Đông Nam trên phần đất của ông Nguyễn Văn P1) giá trị 31.028.000 đồng] trên cơ sở biên bản định giá ngày 24/5/2024 cho vợ chồng ông H, bà H1 thì mới phù hợp, đảm bảo quyền lợi cho các bên theo quy định pháp luật việc ông D1 không đồng ý khoảng chi phí này là không phù hợp. Đối với số tiền tường rào, 02 cửa rào trên, do ông C và ông T1 không đặt ra yêu cầu phân chia riêng nên số tiền này nên giao cho ông H, bà H1 để tự phân chia với ông C và ông T1.
[8] Theo kết quả đo đạc kèm theo Công văn số 309/CNHCL ngày 13/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C thể hiện thửa đất số 664 có lối đi ngang 02 mét dài 32,95 mét, do quá trình đo đạc ông D1, ông H đều thống nhất dành để làm lối đi cho những hộ có đất phía sau đi qua, không có tranh chấp phần này nên không xem xét.
[9] Về chi phí tòa án: Tổng chi phí thẩm định, định giá và chi phí cung kết quả đo đạc số tiền 3.512.000 đồng. Do ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ H1 phải trả đất và ông Cao Văn D phải thanh toán giá trị tài sản trên đất nên mỗi bên phải chịu 50% chi phí trên.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Cao Văn D là con liệt sĩ, thuộc đối tượng được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ H1 phải liên đới nộp áp phí không có giá ngạch 300.000 đồng.
[11] Ý kiến đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát về buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ H1 trả lại thửa đất số 664, tờ bản đồ số 6 diện tích thực đo 1.497,6m² tọa lạc ấp Đ, xã Đ huyện C tỉnh Trà Vinh cho nguyên đơn ông Cao Văn D và buộc ông Cao Văn D trả lại giá trị cây trồng cho ông H và bà Hằng số tiền theo biên bản định giá là có căn cứ phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận. Tuy nhiên, phần nhận định của Vị đại diện Viện kiểm sát đối với hàng rào bao quanh khu mộ trên thửa đất số 664, do ông H không có đơn yêu cầu nên không xem xét, dành cho ông H vụ kiện khác khi có yêu cầu là chưa đảm bảo quyền lợi cho bị đơn, chưa giải quyết triệt để trong vụ án và khó thi hành khi buộc bị đơn giao đất cho nguyên đơn sử dụng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xem xét yêu cầu của nguyên đơn như đã nhận định trên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3, khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 147; Điều 165; Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 166 Luật đất đai năm 2013; Điều 45 Luật đất đai 2024.
Căn cứ Điều 155, Điều 166, Điều 168 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 12, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Văn D về yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ H1 trả lại thửa đất số 664, tờ bản đồ số 6, diện tích 1450m² (thực đo diện tích 1.497,6m²), loại đất NĐ, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Buộc ông Cao Văn D phải trả thành quả công sức quản lý, gìn giữ đất và giá trị tài sản trên đất tổng cộng 121.168.400 đồng (Một trăm hai mươi mốt triệu một trăm sáu mươi tám ngàn bốn trăm đồng) cho ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ H1 (Trong đó, trả thành quả công sức quản lý, gìn giữ số tiền 52.416.000 đồng và giá trị tài sản trên đất có giá trị 68.752.400 đồng).
- Dành cho ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ H1 với ông Cao Văn T một vụ kiện khác về số tiền chuyển nhượng và tiền mượn khi có yêu cầu giải quyết.
- Về chi thẩm định, định giá: Tổng chi phí thẩm định, định giá và chi phí cung kết quả đo đạc số tiền 3.512.000 đồng (Ba triệu năm trăm mười hai nghìn đồng). Ông Cao Văn D phải chịu 1.756.000 đồng và ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ H1 cùng liên đới phải chịu 1.756.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn đồng). Do ông Cao Văn D đã nộp xong toàn bộ chi phí trên nên sau khi thu chi phí từ ông H, bà H1 sẽ hoàn trả cho ông D.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Cao Văn D được miễn nộp. Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ H1 phải liên đới nộp án phí không có giá ngạch 300.000 đồng.
Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Lệ H1 phải trả lại thửa đất số 664, tờ bản đồ số 6, diện tích 1450m² (thực đo diện tích 1.497,6m²), loại đất NĐ, tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho hộ ông Cao Văn D (gồm ông Cao Văn D, bà Trương Thị N) được tiếp tục sử dụng.
Hộ ông Cao Văn D phải có nghĩa vụ gìn giữ, trông nom mồ mả trong phạm vi khuôn viên mộ, không được cản trở các thân tộc có mồ mả trong khuôn viên mộ trong việc tảo mộ (thăm viếng, dọn dẹp, sửa sang và thắp hương tại phần mộ của tổ tiên, người thân đã khuất), trừ trường hợp có sự thỏa thuận khác và không ai được sử dụng đất trái mục đích đã được cấp theo quy định pháp luật.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Để đảm bảo cho việc thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật, nghiêm cấm các bên hủy hoại mục đích sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất như đã quyết định trên cho đến khi thi hành án xong.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có mặt tại phiên có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Huỳnh Liêm |
Bản án số 26/2025/DS-ST ngày 19/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp đòi lại tài sản và yêu cầu di dời tài sản gắn liền trên đất
- Số bản án: 26/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản và yêu cầu di dời tài sản gắn liền trên đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
