TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HS - ST Ngày: 16 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hành và ông Văn Anh Trình
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hằng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Triều - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại hai điểm cầu Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quang Bình và Trại tạm giam Công an tỉnh Q; Tòa án án nhân dân huyện Q xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án Hình sự thụ lý số 25/2025/TLST- HS ngày 03 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 03/6/2025 đối với:
Bị cáo Võ Đức C, sinh ngày 16 tháng 10 năm 1994, tại: thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố V, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Võ Đức V, sinh năm 1971 và bà: Lê Thị P, sinh năm: 1977; Chưa có vợ, con.
Tiền án: 01 tiền án. Ngày 29/9/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tuyên phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 28/2021/HSST. Thi hành án tại Trại giam Đ, đến ngày 27/4/2024 thì chấp hành xong hình phạt.
Tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biệp pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/3/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
2
Vào lúc 09 giờ 10 phút, ngày 25 tháng 03 năm 2025, Công an thị trấn Q chủ trì phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Q thực hiện kế hoạch xét nghiệm chất ma túy đối với các đối tượng trong diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác đến nhà Võ Đức C, sinh ngày 16/10/1994, trú tại tổ dân phố V, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình để thực hiện kế hoạch. Khi được thông báo lý do làm việc, Võ Đức C thừa nhận bản thân đã sử dụng trái phép chất ma túy loại hồng phiến vào tối ngày 24 tháng 03 năm 2025 tại nhà ở của C. Ngoài ra, tại nhà C đang cất giấu 37 (ba mươi bảy) viên nén ma túy tổng hợp loại hồng phiến để sử dụng dần, lo sợ hành vi phạm tội của mình có thể bị Cơ quan Công an phát hiện nên C đã tự thú để hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật. Lực lượng chức năng đã lập biên bản tiếp nhận người phạm tội tự thú, niêm phong toàn bộ số vật chứng liên quan.
Về nguồn gốc số ma túy, theo lời khai của Võ Đức C, vào sáng ngày 23 tháng 03 năm 2025, C đi xe ôm từ nhà C đến khu vực chợ N thuộc phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua 40 (bốn mươi) viên ma túy loại hồng phiến, với số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng). C đưa cho người đàn ông số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) và người đàn ông đưa cho C 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong túi nilon có chứa 40 viên nén, trong đó có 39 (ba mươi chín) viên nén màu hồng và 01 (một) viên nén màu xanh. C mang số ma túy vừa mua được về cất giấu ở bãi cỏ phía sau nhà để sử dụng dần. Đến khoảng 20 giờ ngày 24 tháng 03 năm 2025, C lấy 03 (ba) viên nén màu hồng là ma túy hồng phiến ra sử dụng.
Ngày 31/3/2025, Phòng K Công an tỉnh Q có kết luận giám định số 292/KL-KTHS, kết luận:
- “- Mẫu ký hiệu A1 (tức 36 (ba mươi sáu) viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY”) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 3,07g (ba phẩy không bảy gam),
- M nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.
- Mẫu ký hiệu A2 (tức 01 (một) viên nén hình tròn, màu xanh, trên một mặt có in chữ “WY”) không phải là chất ma túy, khối lượng: 0,09g (không phẩy không chín gam).” (BL: 38-39)
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
Ngày 25/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã thu giữ, tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm:
- 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong gói nilon có chứa 36 (ba mươi sáu) viên nén màu hồng, hình tròn và 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong gói nilon có chứa 01 (một) viên nén màu xanh, hình tròn.
Ngày 31/3/2025, sau khi giám định, Phòng K Công an tỉnh Q đã hoàn trả 2,905g (hai phẩy chín trăm linh năm gam) ma túy loại Methamphetamine còn lại
3
sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q (đã được niêm phong).
Tại Bản cáo trạng số: 26/CT-VKS ngày 02/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Võ Đức C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo; Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo C từ 30 đến 36 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu và tiêu hủy 2,905g (hai phẩy chín trăm linh năm gam) ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói.
Đề nghị tuyên buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng, và Bản luận tội của Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, Cơ quan Điều tra, cơ quan Truy tố đã thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền, ban hành các quyết định tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định.
[2]. Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá hành vi của bị cáo bị truy tố:
Tại phiên toà, bị cáo Võ Đức C đã khai nhận hành vi của mình: Vào sáng ngày 23 tháng 03 năm 2025, do bị cáo có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết đi từ nhà bị cáo đến khu vực chợ N thuộc phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình để tìm người bán ma túy. Khi bị cáo đi bộ giữa đường thì gặp một người đàn ông không quen biết, nghi biểu hiện nghiện ma túy nên đến hỏi người này có biết chỗ nào bán ma túy hay không, thì người này trả lời có bán ma túy. Bị cáo đã mua 40 (bốn mươi) viên ma túy loại hồng phiến với giá tiền 1.200.000 đồng. Bị cáo đã giao tiền mặt và nhận từ người đàn ông này 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong túi nilon có chứa 40 viên nén, trong đó có 39 (ba mươi chín) viên nén màu hồng và 01 (một) viên nén màu xanh. Sau khi mua được ma túy, bị cáo bắt xe ôm đi về nhà tại T, thị trấn Q, huyện Q và cất dấu số ma túy vừa mua được ở bãi cỏ cạnh bãi đất trống, phía sau tường rào tại phía sau nhà. Mục đích bị cáo mua số ma túy trên là để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ ngày 24 tháng 03 năm 2024, một mình bị cáo đã sử dụng hết 03 (ba) viên ma túy hồng phiến.
4
Đến khoảng 09 giờ 10 phút, ngày 25 tháng 03 năm 2025, tổ công tác Công an thị trấn Q đến nhà bị cáo để test nhanh ma túy đối với vì bị cáo đang trong diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, kết quả dương tính với ma túy loại Methamphetamine (ma túy loại hồng phiến). Quá trình làm việc, bị cáo nhận thức hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nên đã tự nguyện lấy 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 37 viên nén, trong đó có 36 viên nén hình tròn, màu hồng và 01 viên nén hình tròn, màu xanh là ma túy hồng phiến cất giấu ngoài bãi cỏ phía sau nhà giao nộp cho Cơ quan Công an thị trấn Quán Hàu. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú.
Theo kết luận giám định số 292/KL-KTHS ngày 31/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q đã kết luận:
- “- Mẫu ký hiệu A1 (tức 36 (ba mươi sáu) viên nén hình tròn, màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ “WY”) là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 3,07g (ba phẩy không bảy gam),
- M nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.
- - Mẫu ký hiệu A2 (tức 01 (một) viên nén hình tròn, màu xanh, trên một mặt có in chữ “WY”) không phải là chất ma túy, khối lượng: 0,09g (không phẩy không chín gam)."
Bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám định này.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức được ma túy do Nhà nước độc quyền quản lý, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi mua, cất giữ với mục đích để sử dụng trái phép, là đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước đối với ma túy. Do vậy, hành vi của Võ Đức C đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đã truy tố và Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và xem xét áp dụng hình phạt đối với bị cáo:
Ma túy là loại chất gây nghiện, gây hại lớn cho sức khỏe con người, ảnh hưởng xấu tới nguồn lực lao động chính phát triển xã hội, là mầm móng của nhiều tội phạm khác. Vì vậy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự, trị an tại địa phương, gây bất bình cho quần chúng nhân dân. Bị cáo đã từng bị kết án và chấp hành hình phạt 5 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn không lấy làm bài học, tu dưỡng, rèn luyện mà vẫn tiếp tục phạm tội, điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật và sự rèn luyện bản thân kém. Tội phạm ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, vì vậy để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời có hình thức cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, trừng trị nghiêm khắc đối với loại tội
5
phạm này.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 29 tháng 9 năm 2021 bị cáo Võ Đức C bị kết án 5 (năm) tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời điểm bị cáo phạm tội chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý, thuộc trường hợp “tái phạm”, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự thú, tự nguyện khai nhận và giao nộp số ma túy mà mình đang cất giấu để sử dụng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Đối với đối tượng bán ma túy cho Võ Đức C, quá trình điều tra căn cứ lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được đối tượng này, do đó Hội đồng xét xử chưa có cơ sở để xử lý trong vụ án.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 3,07g (ba phẩy không bảy gam) chất ma túy, loại Methamphetamine, sau giám định còn 2,905g (hai phẩy chín trăm linh năm gam) là chất cấm, căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu và tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
[7] Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên xử:
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Võ Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt bị cáo Võ Đức C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 25/3/2025.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 2,905g (hai phẩy chín trăm linh năm gam) ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói đã được niêm phong, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/6/2025 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
6
3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Võ Đức C phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 16/6/2025.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Nam |
Bản án số 26/2025/HS - ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 26/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Đức Cường tàng trữ trái phép chất ma tuý
