TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HS-PT Ngày 16/4/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trí Chinh
Ông Trần Quang Cường
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân nhân dân tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Quỳnh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 do có kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại Lưu Quỳnh A là bà Đinh Thị T, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Bị cáo bị kháng cáo: Nguyễn Văn N (tên gọi khác: không), sinh ngày 08/01/1977 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn C, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Bùi Thị M; vợ Đinh Thị T2 và có 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”, có mặt.
- Bị hại: cháu Lưu Quỳnh A, sinh ngày 12/8/2007; nơi cư trú: thôn F, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
- Người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A có kháng cáo: bà Đinh Thị T (mẹ đẻ), sinh năm 1979; nơi cư trú: thôn F, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
Trong vụ án còn có:
- Người đại diện hợp pháp của bị hại cháu Bùi Phương T3 (đã chết): ông Bùi Văn V và bà Nguyễn Thị T4 (là bố mẹ đẻ); nơi thường trú: thôn E, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
- Bị hại: cháu Lại Thị Thùy L, sinh ngày 27/10/2006 và người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lại Thị Thùy L: ông Lại Văn V1 và bà Phạm Thị M1 (là bố mẹ đẻ); nơi thường trú: thôn A, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Đều không có kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị (Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 24/12/2023, Nguyễn Văn N (có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Trường G (loại xe tải thùng tự đổ) trọng tải 3.490 kg, biển kiểm soát (BKS) 15C-291.18 (chủ sở hữu xe ô tô là Nguyễn Văn N) từ chùa B đến cảng V để lấy bùn đất. Khi điều khiển xe đến ngã tư giao nhau giữa đường vận tại V và đường T: Ngọ đi chậm, rà phanh tại mép đường để quan sát nhường đường cho xe máy thứ nhất đi trên đường T theo hướng từ Q đi U; sau khi quan sát và cho rằng đã an toàn, N nhấn ga điều khiển xe sang đường mặc dù quan sát cách khoảng 50-60m thấy có xe máy thứ hai đang đi đến nhưng nghĩ rằng không thể va chạm, N điều khiển xe đi tiếp vào giải phân cách giữa đường, khi đầu ô tô đi sang phần đường bên trái ngược chiều theo hướng từ U về Q thì xe mô tô nhãn hiệu Espero RS, biển kiểm soát (BKS) 14AX-016.21 do cháu Bùi Phương T3 điều khiển chở phía sau là cháu Lưu Quỳnh A và cháu Lại Thị Thùy L theo hướng Q đi U đã vượt qua 02 phương tiện khác và đâm mạnh vào sườn xe phía sau bên trái xe ô tô do N điều khiển. Ngọ lập tức dừng xe ở mép đường bê tông giao với đường tỉnh 338 tại ngã tư, xuống xe quan sát thấy cháu T3 bất tỉnh, cháu Quỳnh A và cháu Thùy L vẫn cử động; N cùng người dân đưa các cháu T3, Quỳnh A và Thùy L đi cấp cứu. Hậu quả: cháu T3 tử vong tại chỗ, cháu Quỳnh A và Thùy L bị thương tích; xe ô tô BKS15C-291.18 và xe mô tô BKS14AX- 016.21, đều bị hư hỏng.
- Về vật chứng: thu giữ 01 xe mô tô, dung tích dưới 50cm3, màu trắng BKS 14AX- 016.21 đã qua sử dụng và bị hư hỏng sau vụ tai nạn giao thông; 01 xe ô tô nhãn hiệu Trường Giang, màu vàng, loại xe tải tự đổ, tải trọng 3.490 kg, BKS 15C- 291.18 đã qua sử dụng và bị hư hỏng sau vụ tai nạn giao thông. Kết thúc quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô BKS 14AX- 016.21 cho cháu Lại Thị Thủy L1 và trả lại xe ô tô BKS 15C-291.18 cho bị cáo Nguyễn Văn N; tạm giữ 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số [...] mang tên Nguyễn Văn N.
- Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 15 giờ 30 phút ngày 24/12/2023, thể hiện: hiện trường xảy ra vụ việc tại ngã tư giao cách giữa đường T và đường bê tông V thuộc thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Các dấu vết, phương tiện được mô tả:
- Dấu vết cày xước trên mặt đường KT (90x2)cm nằm tại phần đường bên phải hướng U đi Q. Điểm đầu vết cày cách mép đường chuẩn 4,45m; cách tim đường 1,0m; cách mốc 15,1m; điểm cuối vết cày cách mép đường chuẩn là 3,2m trùng với vị trí giá để chân trước bên trái xe mô tô BKS 14AX- 016.21;
- Dấu vết cày xước trên mặt đường KT(92x2)cm, tại phần đường bên phải hướng từ U đi Q. Điểm đầu vết cày cách mép đường chuẩn 4,1m; cách điểm đầu 0,5m; điểm cuối vết cách mép đường chuẩn 3,25m trùng với vị trí tay lái xe mô tô BKS 14AX-016.21;
- Xe mô tô BKS 14AX- 016.21 trong trạng thái đổ nghiêng sang trái tại phần đường bên phải hướng từ U đi Q; đầu xe quay về phía mép đường chuẩn, đuôi xe quay về phía tim đường. Trục trước của xe cách mép đường chuẩn là 2,8m, trục sau của xe cách mép đường chuẩn là 4,0m.
- Dấu vết màu nâu nghi máu trên mặt đường KT(0,9x0,3)m gồm: 02 dấu vết dạng vũng nằm tại vị trí sát đầu xe mô tô BKS 14AX- 016.21, cách mép đường chuẩn là 2,7m;
- Dấu vết chất lỏng màu đen dạng bắn toé và dạng vũng chảy từ vị trí xe mô tô BKS 14AX-016.21 đến vị trí xe ô tô BKS 15C-291.18. Trong đó khu vực bắn tóe tại vị trí bánh sau xe mô tô BKS 14AX-016.21.
- Xe ô tô BKS 15C-291.18 trong trạng thái đỗ trên mặt đường bê tông V, đầu xe quay về hướng B, đuôi xe quay về hướng ngã tư; trục trước và trục sau bên trái của xe cách mép đường phải hướng từ ngã tư đến B lần lượt là 3,3m và 3,8m; trục sau bên phải của xe mô tô BKS 14AX- 016.21 cách trục trước xe gắn máy là 5,0m.
- Các mảnh vỡ nhựa tập trung tại vị trí xung quanh xe mô tô BKS 14AX- 016.21.
- Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông thể hiện:
- Xe mô tô BKS 14AX-016.21 bị hư hỏng sau tai nạn giao thông: vỡ, mất hoàn toàn phần nhựa đầu xe; chắn bùn trước, sau; mặt nạ đầu xe; ốp nhựa đầu xe, cụm đèn chiếu sáng, yếm hai bên. Gãy rời tay lái xe. Đầu ống giảm sóc hai bên vỡ kim loại gãy rời khỏi trục bánh xe. Bánh xe không còn hơi, vành xe trước bên trái cong vênh hướng từ ngoài vào trong KT(15x01)cm. Nhiều đũa xe bị cong gập. Chân phanh, giá để chân bên phải cong gập hướng từ trước về sau. Đầu giá để chân bên trái trượt xước cao su, kim loại KT(01x01)cm.
- Xe ô tô BKS 15C-291.18 bị hư hỏng sau tai nạn giao thông: xung quanh thành thùng xe có bám nhiều bùn đất khô, trong thùng xe bùn đất không đáng kể. Mặt ngoài thành thùng xe bên trái có vết trượt bám chất màu nâu nghi máu trong diện KT(20x10)cm, vị trí này cách đuôi xe là 1,2m, điểm thấp nhất của vết cách đất là 1,3m. Phía dưới dấu vết trên có vết trượt mất bụi KT(6x5)cm, điểm thấp nhất của vết cách đất là 1,09m. Cạnh ngoài phía trước của chắn bùn bánh xe sau bên trái bị cong gập kim loại KT(12x3,5)cm, điểm thấp nhất của vết cách đất là 92cm. Đuôi ống kim loại đỡ mái che bẹp móp KT(3x3)cm. Tấm kim loại chắn bùn sau bên trái rách, cong gập kim loại KT(44x17)cm, hướng từ trái sang phải từ dưới lên trên. Thùng dầu thủy lực sườn xe bên trái xê dịch hướng từ trái sang phải, danh mục đầu ống dẫn dầu, bên trong không còn dầu; điểm thấp nhất của vết cách đất là 37cm. Đầu nhíp sau bên trái xước kim loại KT(14x10)cm. Vị trí trên đầu nhíp này, tấm kim loại chắn bùn kẹt nhiều mảnh vỡ nhựa màu trắng, đen của xe mô tô.
- Tiến hành xác định vị trí của phương tiện, thể hiện:
- Xe ô tô BKS 15C-291.18 đi trên đường B, bắt đầu thực hiện đi qua đường tại vị trí làn đường sát mép đường bên phải hướng từ phường Q đi U. Tại vị trí đầu xe ô tô sát với vạch kẻ sơn trắng nét liền; xe mô tô BKS 14AX-016.21 đang ở vị trí làn đường bên phải tim đường theo hướng Q đi U, khoảng cách 02 xe là 80-83cm.
- Xe ô tô BKS 15C-291.18 đi về phía trước một đoạn ngắn, sau đó dừng lại để nhường đường cho 01 phương tiện xe mô tô đi qua. Đầu xe mô tô tại vị trí vạch kẻ sơn màu trắng nét đứt. Xe mô tô BKS 14AX-016.21 đang ở tại vị trí làn đường bên phải tim đường theo hướng từ Q đi U. Khoảng cách của 02 xe là 37-41cm.
- Trích xuất dữ liệu hình ảnh Camera an ninh của Công an xã S 14 giờ 45 phút đến 15 giờ ngày 24/12/2023, thể hiện 03 (ba) mắt camera an ninh tại đường tỉnh 338 thuộc thôn G, xã S:
- Tại vị trí ngã tư đường giao giữa đường V và đường T ghi nhận nội dung tình huống va chạm của vụ tai nạn giữa xe ô tô BKS 15C-291.18 và xe mô tô BKS 14AX-016.21.
- Tại vị trí lối rẽ đường vào Nhà máy G1 và vị trí lối rẽ đường vào Khu công nghiệp A đều ghi nhận hình ảnh những người đi trên xe mô tô BKS 14AX-016.21 trước thời điểm xảy ra vụ tai nạn.
- Kết luận giám định số: 652/KL-KTHS ngày 13/5/2024 của Phòng K, Công an tỉnh Q: nội dung hình ảnh trong 03 (ba) tệp video lưu trữ trong 01 đĩa DVD-R gửi giám định không bị cắt, ghép, chỉnh sửa. Yêu cầu giám định tốc độ của xe mô tô BKS 14AX-016.21 vào thời điểm trước khi xảy ra va chạm, không đủ cơ sở kết luận.
- Kết luận giám định tử thi số: 337/KLGĐTT-TTPY ngày 25/12/2023 của Trung tâm P1 – Sở Y tế tỉnh Q đối với cháu Bùi Phương T3: chảy máu mũi miệng, vết thương sọ não hở nằm dọc giữa trán, qua miệng vết thương thấy xương trán gãy lún lõm vào phía chồng trên một thân xương có mảnh xương vỡ rồi, phía dưới xương vỡ nhiều máu lẫn tổ chức não dập. Gãy xương gò má hai bên. Gãy mất răng 1.1, 1.2, 3.1, 4.1. Gãy xương hàm dưới vị trí ụ cằm. Gãy kín đầu dưới không hai xương cẳng tay hai bên. Gãy kín 1/3 dưới xương đùi trái. Xây sát ra nhiều nơi. Kết luận nguyên nhân chết: chấn thương sọ não hở, dập não, chết não + đa chấn thương phối hợp.
- Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 491/KLTTCT-TTPY ngày 07/6/2024 của Trung tâm P1 – Sở Y tế tỉnh Q đối với cháu Lưu Quỳnh A: [1] Kết quả khám giám định: chấn thương sọ não, đã phẫu thuật, hiện tại điện não đồ không có sóng điện não bệnh lý. Sẹo vùng cổ kích thước lớn, sẹo mở khí quản vùng cổ kích thước trung bình 6% cộng 4%. Chấn thương ngực bụng. Gãy kín đầu dưới hai xương cẳng tay trái, hiện tại xương tan thẳng chụp lên phim X Q là 11%. Chấn thương đùi phải. [2] Kết quả khám chuyên khoa thần kinh: di chứng thất ngôn, ra hiệu làm đúng, liệt cứng hai chi dưới cơ lực chi dưới 2/5, động kinh, suy giảm nhận thức sau đa chấn thương (chấn thương sọ não). [3] Kết quả cận lâm sàng: nhu mô não trán thái dương 2 bên có ổ nhuyễn não KT thuỳ thái dương phải (34x20)mm; thuỳ trán phải (45x31)mm; thuỳ thái dương phải (52x28)mm; thuỳ trán trái (73x37)mm. Khuyết xương sọ bán cầu trái KT (96x89)mm, gãy xương trán chiều dài 55mm, gãy xương bướm và xương thái dương trái. Gãy xương sườn 4,5,6,7 bên trái, gãy xương bả vai trái. Lồng ngực: Gan đường bờ rõ, không thấy ổ đụng dập. Lách bờ liên tục nhu mô đều. Ở bụng không có dịch tự do. Não đồ: Không thấy sóng điện não bệnh lý. Gãy 1/3 xương đùi phải, gãy ngành ngồi mu 02 bên và chậu mu phải. Gãy đầu dưới 02 xương cẳng tay trái. Kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 98%.
- Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 492/KLTTCT-TTPY ngày 07/6/2024 của Trung tâm P1 – Sở Y tế tỉnh Q đối với cháu Lại Thị Thùy L: [1] Kết quả khám giám định: chấn thương sọ não, hàm mặt điều trị nội khoa hiện không có di chứng về thần kinh. Chấn thương chân phải. [2] Kết quả cận lâm sàng: sọ não: gãy thành ngoài xoang hàm trái. Hình ảnh xương 1/3 giữa đùi phải sau gãy. Hình ảnh can xương tốt không thấy đường gãy ngành chậu phải. Màng phổi hai bên không thấy dịch. Ở bụng gan không to, nhu mô đồng nhất. Điện não đồ bình thường. Kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 52%.
- Bản Kết luận định giá tài sản số: 42/KL-HĐĐG ngày 13/8/2024: Phụ tùng, thiết bị hư hỏng của ô tô BKS 15C-291.18 là 900.000 đồng.
- Bản Kết luận định giá tài sản số: 43/KL-HĐĐG ngày 14/8/2024: Phụ tùng, thiết bị hư hỏng của xe mô tô BKS 14AX-016.21 là 4.750.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: trong quá trình điều tra Nguyễn Văn N đã tự nguyện bồi thường cho: gia đình bị hại cháu Bùi Phương T3 15.000.000 đồng; bị hại cháu Lưu Quỳnh A 150.000.000 đồng và bị hại cháu Lưu Thị Thùy L2 29.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại cháu Bùi Phương T3; người đại diện theo pháp luật của: bị hại cháu Lưu Quỳnh A và bị hại cháu Lưu Thị Thùy L2, đều không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Hành vi của Nguyễn Văn N đã vi phạm khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ, về Quy tắc nhường đường tại nơi đường giao nhau: “Tại nơi giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới”.
Cáo trạng số: 2351/CT-VKSQY ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh truy tố Nguyễn Văn N về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%, khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh quyết định:
Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 và khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn N 30 (ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận bồi thường thêm số tiền 120.000.000 đồng giữa bị cáo Nguyễn Văn N và đại diện hợp pháp của bị hại Lưu Quỳnh A (bà Đinh Thị T) tại phiên tòa (đã giao nhận tiền tại phiên tòa sơ thẩm).
Ngoài ra, còn quyết định về xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 05/12/2024, người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A là bà Đinh Thị T kháng cáo phần trách nhiệm dân sự đối với bản án sơ thẩm: yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường thêm cho cháu Lưu Quỳnh A tổng số tiền 208.000.000 đồng, bao gồm: bồi dưỡng sức khỏe cho cháu Lưu Quỳnh A là 100.000.000 đồng; tiền công lao động của bà T đi làm 01 năm là: 6.000.000 đồng/tháng x 12 tháng = 72.000.000 đồng; tiền công lao động của cháu Quỳnh A 01 năm là: 3.000.000 đồng/tháng x 12 tháng = 36.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A là bà Đinh Thị T thay đổi nội dung kháng cáo yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường thêm tổng số tiền 172.000.000 đồng, bao gồm: bồi dưỡng sức khỏe cho cháu Lưu Quỳnh A là 100.000.000 đồng và tiền công lao động của bà T 01 năm là 72.000.000 đồng, đưa ra 09 tài liệu gồm các bảng kê chi phí sử dụng dịch vụ y tế và hóa đơn mua thuốc. Bà T trình bày đây là chi phí điều trị cho cháu Lưu Quỳnh A từ sau khi Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh phân tích, đánh giá căn cứ kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A là bà Đinh Thị T. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A, là bà Đinh Thị T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2024/HS-ST ngày 22/11/2024, của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh về phần trách nhiệm dân sự của bị cáo Nguyễn Văn N đối với bị hại cháu Lưu Quỳnh A.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A, là bà Đinh Thị T trình bày quan điểm tranh luận: con tôi không phải là người điều khiển xe máy, xe của các cháu có đâm vào xe ô tô hay xe ô tô đâm vào xe của các cháu thì tôi không được chứng kiến. Tại phiên tòa sơ thẩm tôi không nghĩ được, sau khi về tôi thấy số tiền 270 triệu đồng bị cáo N bồi thường cho con tôi chỉ đủ tiền viện phí và tiền thuốc điều trị cho con tôi, chưa có tiền bồi dưỡng sức khỏe cho con tôi vì hiện nay con tôi vẫn phải điều trị, vẫn phải mua thuốc và tiền công của tôi trong một năm nghỉ không đi chợ để chăm sóc con (tôi buôn bán tại chợ T6 từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng/ngày hoặc tính theo công người đi chăm sóc người bị bệnh nặng tại bệnh viện là 500.000 đồng/ngày). Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của tôi.
Bị cáo Nguyễn Văn N trình bày quan điểm tranh luận: tại cấp sơ thẩm, tôi và bà T đã thỏa thuận xong về phần bồi thường cho cháu Lưu Quỳnh A, tôi và gia đình đã cố gắng hết sức (còn phải vay mượn) để lo trả tiền bồi thường. Hiện nay tôi chỉ có thể hỗ trợ thêm cho cháu Lưu Quỳnh A 40.000.000 đồng nữa để bồi dưỡng sức khỏe, không thể có khả năng gì thêm vì tôi bây giờ sức khỏe giảm sút, chỉ cố gắng đi làm để trả nợ.
Lời nói sau cùng: bị cáo Nguyễn Văn N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giữ nguyên bản án sơ thẩm, để bị cáo yên tâm cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm, người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A, là bà Đinh Thị T có đơn kháng cáo trong hạn luật định, theo đúng quy định tại các Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự là hợp pháp, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa, bà T thay đổi nội dung kháng cáo nhưng vẫn trong phạm vi kháng cáo nên chấp nhận.
[2] Về nội dung kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A, là bà Đinh Thị T:
[2.1] Về tội danh, về hình phạt: tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của: người đại diện hợp pháp của bị hại cháu Bùi Phương T3, là ông Bùi Văn V – bà Nguyễn Thị T4; bị hại cháu Lại Thị Thùy L; người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A, là bà Đinh Thị T, người làm chứng bà Trần Thị T5 và ông Đinh Văn P, phù hợp với: sơ đồ hiện trường; biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; bản ảnh khám nghiện hiện trường; bản ảnh khám nghiệm phương tiện; kết luận giám định tử thi; biên bản kiểm tra trích xuất dữ liệu hình ảnh Camera; bản ảnh trích xuất hình ảnh; các kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống và bản kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: khoảng 14 giờ 45 phút ngày 24/12/2024, Nguyễn Văn N (có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển ôtô nhãn hiệu Trường Giang, loại xe tải thùng tự đổ 3,5 tấn, BKS 15C-291.18 từ chùa B đến cảng V thuộc thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh để lấy bùn đất; khi điều khiển xe đến ngã tư giao nhau giữa đường vận tại V và đường T, do không chú ý quan sát đã vi phạm luật giao thông đường bộ (không nhường đường cho xe đi trên đường U) nên xe mô tô BKS 14AX-016.21 do cháu Bùi Phương T3 điều khiển chở phía sau là cháu Lưu Quỳnh A và cháu Lại Thị Thùy L theo hướng từ Q đi U đã đâm mạnh vào sườn xe phía sau bên trái của ôtô do bị cáo Nguyễn Văn N điều khiển. Hậu quả: cháu Bùi Phương T3 tử vong, cháu Lưu Quỳnh A và Lại Thị Thùy L bị thương, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là là 150% (trong đó: cháu Lưu Quỳnh A bị thương tích 98%, cháu Lại Thị Thùy L bị thương tích 52%); xe mô tô BKS 14AX- 016.21 bị hư hỏng, thiệt hại 4.750.000 đồng.
Hành vi của Nguyễn Văn N đã vi phạm khoản 3 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ, về Quy tắc nhường đường tại nơi đường giao nhau: “Tại nơi giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữa đường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánh phải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳ hướng nào tới”, đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%, khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tòa án cấp sơ thẩm đã kiểm tra, đánh giá tài liệu chứng cứ; đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn N, để quyết định xử phạt bị cáo 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo Nguyễn Văn N có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã S, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Về tội danh và hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn N là có căn cứ, không có kháng cáo; không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[2.2] Về trách nhiệm dân sự:
Tại cấp sơ thẩm, người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A, là bà Đinh Thị T yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường tổng số tiền 607.800.000 đồng, gồm: tiền viện phí 270.000.000 đồng; tiền thuê xe 29.800.000 đồng; tiền bồi dưỡng sức khoẻ 100.000.000 đồng; tiền lương làm việc của cháu Quỳnh A trong một năm 36.000.000 đồng; tiền công người chăm sóc 72.000.000 đồng và tiền chi phí điều trị sau xét xử là 100.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, giữa người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A, là bà Đinh Thị T và bị cáo Nguyễn Văn N đã thỏa thuận được với nhau về việc bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường cho bị hại cháu Lưu Quỳnh A tổng số tiền 270.000.000 đồng, bà Đinh Thị T không yêu cầu bồi thường gì khác. Sự thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Văn N và người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A là bà Đinh Thị T, là hoàn toàn tự nguyện, không ai bị ép buộc, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, cơ bản phù hợp với quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của Bộ luật Dân sự năm 2015. Bản án sơ thẩm đã ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận bồi thường giữa bị cáo Nguyễn Văn N và người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A, là bà Đinh Thị T tại phiên tòa sơ thẩm (hai bên đã giao, nhận đủ số tiền bồi thường theo thỏa thuận), là có căn cứ.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A là bà Đinh Thị T kháng cáo yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường thêm tổng số tiền là 208.000.000 đồng như nêu trên, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh kháng cáo là có căn cứ. Tại phiên tòa, thay đổi nội dung kháng cáo yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường thêm tổng số tiền 172.000.000 đồng, gồm tiền bồi dưỡng sức khỏe cho cháu Quỳnh A là 100.000.000 đồng và tiền công của bà T đi làm 01 năm là 72.000.000 đồng. Bà T đưa ra 09 tài liệu gồm các bảng kê chi phí sử dụng dịch vụ y tế và hóa đơn mua thuốc với tổng số tiền là 11.345.000 đồng, theo bà T trình bày đây là chi phí điều trị cho cháu Lưu Quỳnh A phát sinh từ sau khi xét xử sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn N không chấp nhận, chỉ chấp nhận hỗ trợ cho cháu Lưu Quỳnh A thêm 40.000.000 đồng để bồi dưỡng sức khỏe.
Xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A là bà Đinh Thị T cung cấp được tình tiết mới; tài liệu, chứng cứ mới có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bà Đinh Thị T, cần buộc bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường cho bị hại cháu Lưu Quỳnh A số tiền 50.000.000 đồng (trong đó: tiền chi phí sử dụng dịch vụ y tế và tiền thuốc phát sinh sau khi xét xử sơ thẩm là 11.345.000 đồng, còn lại là tiền bồi dưỡng sức khỏe cho cháu Quỳnh A). Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu bồi thường khoản tiền công của bà T là 72.000.000 đồng.
[3] Về án phí: kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A là bà Đinh Thị T, được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với số tiền còn phải bồi thường cho bị hại cháu Lưu Quỳnh A.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 1, 2 Điều 355 và điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự
QUYẾT ĐỊNH:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A là bà Đinh Thị T. Sửa phần trách nhiệm dân sự của Bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2024/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh như sau:
- Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Điều 357; Điều 468; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 586 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự:
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường cho bị hại cháu Lưu Quỳnh A số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) (ngoài số tiền 270.000.000 đồng đã bồi thường tại cấp sơ thẩm).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí phúc thẩm: điểm c khoản 1; điểm e, h khoản 2 Điều 23 và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Người đại diện theo pháp luật của bị hại cháu Lưu Quỳnh A là bà Đinh Thị T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN Nguyễn Thúy Hằng |
Bản án số 26/2025/HS-PT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 26/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kháng cáo phần trách nhiệm dân sự
