A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14-4-2025
V/v tranh chấp Hôn nhân & gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và ông Nguyễn Hạ Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: ông Nguyễn Gia Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 13/2025/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 16/2025/QÐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Khánh L - sinh năm 1996 (có mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã C, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội
*Bị đơn: Anh Lê Xuân S – sinh năm 1986 (vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã C, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn ly hôn và các buổi làm việc tại Tòa chị Nguyễn Thị Khánh L là nguyên đơn trình bày: chị và anh Lê Xuân S qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã S (nay là xã C) năm 2016. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tìm thấy tiếng nói chung; cái tôi của mỗi người quá lớn nên không thể hòa hợp được với nhau; vợ chồng liên tục xích mích nhau cãi nhau thường xuyên. Bản thân anh S không tu chí làm ăn, thường xuyên chơi bời; không đỡ đần công việc phụ giúp gia đình. Chị và bố mẹ chồng đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh S không thay đổi. Hai vợ chồng đã sống ly thân 01 năm nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên chị cương quyết xin ly hôn anh S. Về con chung: có 01 con là Lê Thanh L1 – sinh ngày 09/9/2017. Hiện cháu đang ở với chị. Khi ly hôn, chị đề nghị Toà giải quyết để chị nuôi con và không yêu cầu anh S cấp dưỡng tiền nuôi con; vì hiện tại chị đang thuê nhà, làm văn phòng mức thu nhập 7.000.000 đồng; anh S làm lái xe có thu nhập nhưng anh chơi bời, không đỡ đần được kinh tế cho vợ con cũng như bố mẹ anh S. Về tài sản, công nợ chung: chị không đề nghị Toà giải quyết
Bị đơn anh Lê Xuân S trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Khánh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C năm 2016. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng bình thường nnay chị L có đơn ly hôn thì tuỳ chị L quyết định. Về con chung có 01 con là Lê Thanh L1 – sinh ngày 09/9/2017 hiện đang ở với chị L, quan điểm của anh là tuỳ Toà giải quyết. Về tài sản, công nợ chung anh không đề nghị Toà giải quyết.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt; các đương sự không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ và đều không có ý kiến thay đổi khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa có quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết xử cho chị Nguyễn Thị Khánh L được ly hôn anh Lê Xuân S. Về con chung: giao chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Thanh L1 – sinh ngày 09/9/2017; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh S. Chị L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đợc thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các đơng sự, H đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về phạm vi khởi kiện, quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị Khánh L có đơn xin đề nghị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Xuân S và giải quyết về con chung. Do vậy, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS.
Về thẩm quyền: Quan hệ pháp luật là tranh chấp Hôn nhân và gia đình, bị đơn là anh Lê Xuân S có đăng ký nơi cư trú: thôn H, xã C, huyện Ứ, thành phố Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Hội đồng xét xử đã mở phiên toà ngày 28/3/2025 nhưng vắng mặt của anh S nên Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, tại phiên toà hôm nay mặc dù được triệu tập hợp lệ lần thứ hai anh S vắng mặt không có lý do chính đáng nên căn cứ Điều 227, Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.
Về chứng cứ: Toà đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp đối với đương sự vắng mặt. Các đương sự đã được tiếp cận toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ do các đương sự cung cấp, Toà thu thập; không có ý kiến nào phản đối về chứng cứ; các đương sự không nộp tài liệu chứng cứ nào khác. Do vậy, những tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết, đủ điều kiện là chứng cứ theo Điều 92, Điều 93 của BLTTDS.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Khánh L và anh Lê Xuân S đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã S (nay là xã C), huyện Ứ, TP . ngày 27/7/2016 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thì thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm thấy tiếng nói chung; vợ chồng sống ly thân một năm nay. Đồng thời anh S không có quan điểm rõ ràng là đồng ý hay không đồng ý ly hôn mà chỉ có ý kiến tuỳ chị L quyết định và cũng không đến Toà để làm việc. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: cuộc sống chung giữa vợ chồng chị L và anh S mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống ly thân một năm. Nay chị L có đơn ly hôn, chính quyền địa phương có ý kiến: đề nghị Tòa căn cứ vào thực tế và quy định của pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.
Xét thấy: cuộc sống hôn nhân của chị L và anh S mâu thuẫn đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên xét thấy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị L là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.
[3] Về con chung:
Chị Nguyễn Thị Khánh L và anh Lê Xuân S có 01 con chung là Lê Thanh L1 – sinh ngày 09/9/2017. Chị L đề nghị Toà giải quyết cho chị được nuôi con còn anh S có ý kiến Toà giải quyết.
Xét về điều kiện chăm sóc, môi trường sinh hoạt và địa giới hành chính quê nội quê ngoại của cháu L1 thì Hội đồng xét xử thấy: chị L và anh S đều chưa có nhà riêng; hai anh chị đều là lao động tự do nên về chỗ ở, điều kiện kinh tế ngang nhau. Hai anh chị là người cùng xã cách nhau khoảng 5km vì việc sau khi ly hôn, việc thăm nom con thuận tiện. Cháu L1 hiện đang ở ổn định với chị L và có quan điểm ở với mẹ. Vì vậy, căn cứ vào điều kiện sinh hoạt, môi trường và nguyện vọng của con cũng như ý kiến đại diện địa phương: đề nghị Toà căn cứ thực tế và quy định pháp luật để giải quyết đảm bảo quyền lợi, sự phát triển tâm sinh lý của trẻ nhỏ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao chị L nuôi con là phù hợp, đảm bảo cho cháu L1 được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt nhất là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị L không đề nghị giải quyết tiền cấp dưỡng nên tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh S cho đến khi có thay đổi khác; anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản, công nợ chung:
Chị Nguyễn Thị Khánh L và anh Lê Xuân S không đề nghị Tòa giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị Khánh L phải nộp án phí ly hôn. Các đương sự đều được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Khánh L được ly hôn anh Lê Xuân S.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Khánh L và anh Lê Xuân S có 01 con chung. Khi ly hôn, giao chị L là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lê Thanh L1 – sinh ngày 09/9/2017; tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh S cho đến khi có đề nghị thay đổi khác. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị Khánh L và anh Lê Xuân S đều không đề nghị Toà giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Khánh L phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0012133 ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, TP ..
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Bích Hằng |
Bản án số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân & gia đình
- Số bản án: 26/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân & gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA
