Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/KDTM-ST

Ngày: 11/4/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phùng Ngọc Toàn

2. Bà Lưu Thị Kim Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên toà: Bà Bùi Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 147/2025/TB-TLVA ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2025/QĐXX-KDTM ngày 20/3/2025 giữa:

- Nguyên đơn: CÔNG TY TNHH N; Địa chỉ trụ sở chính: Số A phố G, phường K, quận B, thành phố Hà Nội; Địa chỉ liên hệ: Tòa nhà H, số A ngõ A phố D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn H – Chức vụ: Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng A, bà Lương Thị Thương T, bà Nguyễn Thị Vân A1 (Ông Hoàng A, bà Vân A1 có mặt).

- Bị đơn: CÔNG TY TNHH T2; Địa chỉ trụ sở: F L, phường A, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T1 – Chức vụ: Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tiết Đức A2 (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn- Công ty TNHH N trình bày:

* Ngày 05/5/2018, Công ty N ký hợp đồng mua bán số 10/VTL-XNKMT/2018 với Công ty T2, theo hợp đồng Công ty N bán cho Công ty T2 3000MT 05% khô dầu đậu tương nguồn gốc Argentina, đơn giá 11.010.000 đồng/MT, tổng giá trị hợp đồng 33.030.000.000 đồng.

Theo Điều 3.2 hợp đồng, Công ty T2 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty N theo 3 đợt: Đợt 1: 10% giá trị hợp đồng không muộn hơn ngày 04/5/2018; Đợt 2: 05% giá trị hợp đồng chậm nhất trước 05 ngày làm việc kể từ ngày dự kiến hàng về cảng dỡ tại Việt Nam theo thông báo của hàng tàu; Đợt 3: 100% giá trị hợp đồng trước khi nhận hàng, nhưng trong mọi trường hợp không muộn hơn ngày 15/8/2018. Số tiền đã thanh toán đợt 1, đợt 2 được khấu trừ vào đợt thanh toán cuối.

Hàng hóa sẽ được giao cho Công ty T2 trong vòng 30 ngày kể từ ngày dự kiến giao hàng trên thông báo sẵn sàng giao hàng của bên bán với điều kiện Công ty T2 đã thanh toán đợt 1 và đợt 2 theo quy định hợp đồng.

Do nhầm lẫn nên thông tin về ngày thành toán hai bên điền là ngày trước khi ký hợp đồng, do đó để phù hợp với nhu cầu thực tế của hai bên, ngày 31/12/2018, Công ty N và Công ty T2 đã ký phụ lục sửa đổi số 01 để điều chỉnh lại một số nội dung trong hợp đồng, cụ thể: Điều chỉnh số lượng hàng hóa: 3161.27 MT 05% khô dầu đậu tương; Điều chỉnh đơn giá hàng hóa: 11.833.833 đồng/MT; Điều chỉnh tổng giá trị hợp đồng: 37.409.941.248 đồng; Điều chỉnh điều khoản thanh toán như sau:

  • + Đợt 1 (Đặt cọc): 10% giá trị lô hàng được bên mua thanh toán đặt cọc cho bên bán trước khi nhận lô hàng đó, nhưng trong mọi trường hợp không muộn hơn ngày 31/01/2019.
  • + Đợt 2: 70% giá trị từng lô hàng sẽ được bên mua thanh toán cho bên bán trước khi nhận lô hàng, nhưng trong mọi trường hợp không muộn hơn ngày 31/01/2019.
  • + Đợt tiếp theo: 30% tổng giá trị các lô hàng của hợp đồng sẽ được bên mua thanh toán cho bên bán không muộn hơn ngày 30/9/2019. Số tiền thanh toán cọc tương đương 10% tổng giá trị các lô hàng của hợp đồng, sẽ được bên mua khấu trừ vào lần thanh toán cuối cùng.

Điều chỉnh điều khoản giao hàng như sau: Từng lô hàng sẽ được giao cho bên mua với điều kiện bên mua đã thanh toán đợt 1 và đợt 2 cho bên bán như quy định tại Điều 3.2.

Kể từ thời điểm ký hợp đồng, Công ty N đã nhận được nhiều lần thanh toán của Công ty T2 vào các ngày 11/9/2018; 27,28,29,30/11/2018; 3,4,5,7,21,24,25,27/12/2018; 3,4,7,14,15,16,17,18,21/12/2018, tính đến hết ngày 21/01/2019, Công ty N đã nhận được tổng số tiền là 29.692.457.052 đồng của Công ty T2 tương đương 79.11% tổng giá trị hợp đồng.

Ngay sau khi nhận được hàng hóa từ hợp đồng đầu vào, Công ty N đã thực hiện nghĩa vụ giao hàng cho Công ty T2. Với mỗi đơn hàng được giao các bên đều ký biên bản kiểm tra, bàn giao hàng hóa và có các hóa đơn kèm theo. Cụ thể Công ty N đã giao hàng theo 10 đợt:

  • Đợt 1 ngày 12/9/2018, khối lượng 0.664 tấn;
  • Đợt 2 ngày 29/11/2018, khối lượng 65.81 tấn;
  • Đợt 3 ngày 30/11/2018, khối lượng 189.18 tấn;
  • Đợt 4 ngày 21/12/2018, khối lượng 376.92 tấn;
  • Đợt 5 ngày 25/12/2018, khối lượng 141.62 tấn;
  • Đợt 6 ngày 28/12/2018, khối lượng 54.57 tấn;
  • Đợt 7 ngày 31/12/2018, khối lượng 34.68 tấn;
  • Đợt 8 ngày 14/01/2019, khối lượng 1039.37 tấn;
  • Đợt 9 ngày 24/01/2019, khối lượng 164.46 tấn;
  • Đợt 10 ngày 24/01/2019, khối lượng 1106.09 tấn.

Các đợt bàn giao hai bên đều ký biên bản bàn giao của từng đợt, 10 biên bản bàn giao tương ứng với 11 hóa đơn, trong đó 10 hóa đơn hàng hóa bàn giao và 01 hóa đơn điều chỉnh đơn giá hàng hóa. Các biên bản bàn giao Công ty N đã cung cấp cho Tòa án.

Sau khi Công ty N đã giao đầy đủ hàng hóa cho Công ty T2, ngày 25/01/2019, Công ty N và Công ty T2 đã ký biên bản bàn giao hàng hóa tổng thể, trong đó xác định số lượng khô dầu đậu tương đã giao là 3173.364 tấn khô dầu đậu tương.

Ngày 31/01/2019, Công ty N và Công ty T2 đã ký biên bản nghiệm thu quyết toán, xác nhận: Số lượng hàng hóa theo hợp đồng là: 3161.270 05% tấn khô dầu đậu tương; Số lượng hàng hóa thực tế đã giao: 3173.364 tấn; Giá trị hợp đồng theo số lượng bàn giao thực tế là: 37.533.059.624 đồng; Số tiền Công ty T2 đã thanh toán: 29.692.457.052 đồng; Số tiền còn lại phải thanh toán: 7.860.602.572 đồng.

Để giải quyết số tiền 7.860.602.572 đồng còn lại, ngày 21/02/2024, Công ty N và Công ty T2 đã thống nhất và ký thỏa thuận về lộ trình thanh toán. Theo thỏa thuận, số tiền Công ty T2 còn phải trả cho Công ty N là: 7.860.602.572 đồng. Hai bên thống nhất lộ trình thanh toán như sau:

  • Đợt 1: Thanh toán 500.000.000 đồng trước ngày 30/4/2019;
  • Đợt 2: Thanh toán 1.000.000.000 đồng trước ngày 30/5/2019;
  • Đợt 3: Thanh toán 1.500.000.000 đồng trước ngày 30/6/2019;
  • Đợt 4: Thanh toán 1.000.000.000 đồng trước ngày 30/7/2019;
  • Đợt 5: Thanh toán 1.500.000.000 đồng trước ngày 30/8/2019;
  • Đợt 6: Thanh toán 2.360.602.572 đồng trước ngày 30/9/2019.

Cũng tại văn bản này, các bên thỏa thuận Công ty T2 phải trả chi phí vốn phát sinh cho Công ty N kể từ ngày 01/01/2019 đến thời điểm thanh toán với mức lãi suất là 8.3%.

Đối với số tiền quá hạn theo lộ trình thanh toán: Bên mua có trách nhiệm thanh toán phần lãi suất trả chậm là 11%/năm tương ứng với số tiền trả chậm và thời gian trả chậm trên thực tế.

Bản thỏa thuận này có hiệu lực kể từ ngày ký và là một phần của Hợp đồng số 10/VTL-XNKMT/2018.

* Ngày 10/5/2018, Công ty N và Công ty T2 đã ký Hợp đồng mua bán số 11/VTL-XNKMT/2018, theo hợp đồng Công ty N bán cho Công ty T2 mặt hàng: Khô dầu đậu tương, số lượng 3000 tấn (05%), tổng giá trị hợp đồng là 33.783.000.000 đồng. Căn cứ Điều 3.2 hợp đồng về điều khoản thanh toán, Công ty T2 có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty N theo 3 đợt: Đợt 1: 10% tổng giá trị Hợp đồng được Bên mua thanh toán cho Bên bán không muộn hơn ngày 14/5/2018; Đợt 2: 05% giá trị Hợp đồng sẽ được Bên mua thanh toán cho Bên bán chậm nhất trước năm (05) ngày làm việc kể từ ngày dự kiến hàng về cảng dở tại Việt Nam theo thông báo của H1; Đợt tiếp theo: 100% giá trị hàng hóa theo từng đợt giao hàng (bao gồm cả giá trị hàng bị cảng giữ lại để phân chia thừa thiếu) sẽ được Bên mua thanh toán cho Bên bán trước khi giao nhận hàng, nhưng trong mọi trường hợp toàn bộ giá trị Hợp đồng được thanh toán cho Bên bán không muộn hơn ngày 15/8/2018. Số tiền thanh toán Đợt 1 và Đợt 2, tương đương 15% tổng giá trị hợp đồng sẽ được Bên mua khấu trừ vào đợt thanh toán cuối cùng.

Về thời gian giao hàng, căn cứ Điều 2.1 Hợp đồng quy định về thời gian giao hàng: Toàn bộ hàng hóa sẽ được giao cho Bên mua trong vòng 30 ngày kể từ ngày dự kiến giao hàng trên thông báo sẵn sàng giao hàng của bên bán với điều kiện bên mua đã thanh toán đợt 1, đợt 2 và toàn bộ giá trị đơn hàng của lô hàng đó trước khi giao hàng cho bên bán như quy định tại Điều 3.2.

Thực hiện hợp đồng trên, Công ty N đã thực hiện chuyển hàng đến địa điểm giao hàng theo đúng thỏa thuận vào ngày 05/7/2018 tại cảng P. Tuy nhiên Công ty T2 không thanh toán theo quy định trong hợp đồng nên Công ty N không giao hàng cho Công ty T2 mà chuyển hàng hóa đến kho Manuchar để lưu trữ.

Trong suốt quá trình hàng hóa lưu kho, Công ty T2 vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán và nhận hàng hóa. Do đó, ngày 09/11/2018, Công ty N và Công ty T2 đã làm việc trực tiếp để thống nhất về phương án giải quyết tại biên bản họp giải quyết một số tồn tại trong quá trình thực hiện hợp đồng. Công ty N đã cung cấp bản sao. Công ty T2 xác định chưa thanh toán và chưa nhận hàng hóa, trong đó bao gồm các lô hàng của hợp đồng số 11. Hai bên xác nhận lộ trình Công ty T2 sẽ thanh toán và nhận toàn bộ hàng chậm nhất trong tháng 12/2018. Đồng thời, Công ty T2 xác nhận sẽ ký nhận nợ số tiền chênh lệch giữa giá trị Hợp đồng với giá trị thị trường của hàng hóa và các chi phí phát sinh liên quan đến lô hàng như chi phí thuê kho, chi phí làm hàng...

Mặc dù đã có thỏa thuận nhưng Công ty T2 vẫn không thực hiện được. Do đó, hết thời hạn thỏa thuận, ngày 31/12/2018, Công ty N và Công ty T2 ký thỏa thuận hủy hợp đồng số 11, tại thỏa thuận này, các bên xác nhận: Hủy hợp đồng số 11, Công ty T2 phải bồi thường thiệt hại cho Công ty N phần chênh lệch do giảm giá thị trường của lô hàng từ 11.261.000 đồng/MT xuống 9.300.000 đồng/MT, tương ứng giảm 1.961.000 đồng/MT (Giảm 17.414%). Tổng giá trị thiệt hại do giảm giá thị trường là 6.177.150.000 đồng; Công ty T2 phải bồi thường cho Công ty N chi phí thuê kho Manuchar phát sinh đến ngày 31/12/2018 với số tiền 1.583.988.142 đồng; Công ty T2 phải trả chi phí phạt hợp đồng là 825.680.668 đồng tương ứng với 2.33% giá trị hợp đồng.

Tổng cộng, Công ty T2 phải trả cho Công ty N tiền bồi thường thiệt hại phần chênh lệch do giảm giá thị trường của lô hàng; tiền bồi thường thiệt hại chi phí thuê kho và tiền phạt hủy hợp đồng với tổng số tiền là 8.586.818.810 đồng. Hai bên đã thống nhất lộ trình thanh toán, thời hạn thanh toán cho số tiền nêu trên trong tháng 02/2019.

* Áp dụng lãi suất đối với các khoản công nợ của Công ty T2

Sau khi ký thỏa thuận số 01 (Theo hợp đồng số 10/VTL-XNKMT/2018 ngày 05/5/2018) và thỏa thuận hủy hợp đồng số 11/VTL-XNKMT/2018 ngày 31/12/2024, Công ty N tính lãi như sau:

  • - Đối với Hợp đồng số 10: Công ty N tính lãi 8.3%/năm từ ngày 01/01/2019 đến ngày thực tế thanh toán hoặc đến ngày cuối cùng của đợt thanh toán. Đối với các khoản nợ gốc của từng đợt khi đến hạn thanh toán của đợt đó mà Công ty T2 chưa thanh toán, Công ty N sẽ tính lãi suất 11%/năm. Các khoản lãi suất nêu trên được quy định tại thỏa thuận số 01 kèm theo Hợp đồng số 10 (Thỏa thuận là một phần của hợp đồng và không thể tách rời).
  • - Đối với Hợp đồng số 11: Khoản công nợ của Hợp đồng số 11 được hai bên thống nhất lộ trình trả nợ tại thỏa thuận về lộ trình thanh toán ngày 25/02/2019. Theo đó, Công ty T2 thanh toán cho Công ty N theo lộ trình 4 đợt với tổng số tiền là 4.200.000.000 đồng. Số tiền còn lại 4.386.818.810 đồng hai bên chưa thống nhất được lộ trình thanh toán.

Căn cứ thỏa thuận, Công ty N chỉ tính lãi đối với các khoản tiền đến hạn của từng đợt mà Công ty T2 chưa thanh toán với mức lãi suất 11%/năm. Khoản tiền 4.386.818.810 đồng chưa thống nhất được lộ trình thanh toán, Công ty N không tính lãi suất.

Đến ngày 30/9/2020, Công ty N và Công ty T2 đã thống nhất lại về các khoản công nợ giữa 2 bên tại thỏa thuận về thanh toán công nợ, cụ thể: Số tiền Công ty T2 phải trả cho Công ty N tại thời điểm 30/9/2020 là 11.676.300.948 đồng, trong đó: Nợ gốc là 11.573.717.290 đồng; Lãi chậm thanh toán tháng 9/2020 là 102.583.658 đồng.

Công ty N và Công ty T2 đã thống nhất phương án trả nợ như sau: Lãi chậm thanh toán tháng 09/2020 là 102.583.658 đồng. Từ thời điểm 01/10/2020 đến ngày thanh toán đủ nợ gốc thực tế, Công ty T2 có trách nhiệm thanh toán phần lãi trả chậm đối với khoản nợ gốc nêu trên (11.573.717.290 đồng) với mức lãi suất là 11,0% tương ứng với số tiền trả chậm đến ngày thanh toán đủ nợ gốc thực tế.

Sau khi ký thỏa thuận ngày 30/9/2020, hai bên tiếp tục làm việc nhiều lần sau đó để thống nhất phương án trả nợ thông qua biên bản họp giải quyết công nợ ngày 24/12/2020; Công văn về việc cam kết thanh toán ngày 18/11/2022; Biên bản họp giải quyết công nợ ngày 14/4/2024.

* Quá trình thanh toán công nợ của Công ty T2

Kể từ thời điểm phát sinh công nợ, Công ty T2 đã thanh toán cho Công ty N tổng số tiền, cụ thể: Hợp đồng số 10: Công ty T2 đã thanh toán lãi cho Công ty N tổng cộng 10 kỳ với tổng số tiền là 920.889.835 đồng; Hợp đồng số 11: Công ty T2 đã thanh toán cho Công ty N tổng cộng 24 đợt với tổng số tiền 1.664.355.288 đồng.

Công ty TNHH N đề nghị Tòa án giải quyết:

  1. Buộc Công ty T2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Công ty N tính đến ngày 11/4/2025 là 13.745.445.310 đồng. Trong đó: Nợ gốc: Hợp đồng số 10 là: 3.360.602.572 đồng; Hợp đồng số 11 là: 6.986.818.810 đồng; Tổng: 10.347.421.382 đồng; Nợ lãi: Hợp đồng số 10: 1.472.156.068 đồng; Hợp đồng số 11: 1.925.867.860 đồng. Tổng: 3.398.023.928 đồng.
  2. Kể từ ngày 12/4/2025 buộc Công ty T2 phải tiếp tục tính lãi suất trên nợ gốc quá hạn đối với các khoản nợ nêu trên theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng và các thỏa thuận kèm theo đến thời điểm Công ty T2 hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ trả nợ với Công ty N.

Công ty TNHH T2 do người đại diện trình bày:

Công ty T2 xác nhận có ký các Hợp đồng mua bán và Phụ lục Hợp đồng mua bán với Công ty N đúng như Công ty N trình bày. Công ty T2 xác nhận còn nợ Công ty N số tiền tính đến ngày 11/4/2025 là 13.745.445.310 đồng; Trong đó số tiền nợ gốc là 10.347.421.382 đồng và số tiền nợ lãi là 3.398.023.928 đồng. Tuy nhiên Công ty T2 đang gặp khó khăn trong kinh doanh nên Công Ty T2 đưa ra phương án trả nợ cho Công ty N như sau: Kể từ Quý II/2025 đến Quý II/2026, Công ty T2 phải trả Công ty N số tiền 200.000.000 đồng/quý. Sau đó Công ty T2 sẽ tiếp tục đưa ra lộ trình trả nợ cho Công ty N và tất toán khoản vay vào tháng 12/2027.

Tại phiên tòa

  • * Nguyên đơn: Công ty N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không đồng ý với phương án trả nợ của Công ty T2.
  • * Bị đơn: Đề nghị Công ty N chấp nhận phương án trả nợ của Công ty T2.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình phát biểu ý kiến:

Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình xét xử vụ án.

Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong việc tống đạt, niêm yết các văn bản của Tòa án, trong quá trình xét xử vụ án.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Về hình thức và nội dung Hợp đồng mua bán được các bên ký kết dựa trên cơ sở tự nguyện, theo đúng quy định pháp luật.

Từ những phân tích nhận định trên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định: Căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 430, 440 Bộ luật dân sự 2015: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH N: Buộc Công ty TNHH T2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Công ty TNHH N, tạm tính đến ngày 11/4/2025 là 13.745.445.310 đồng. Công ty N được tiếp tục tính lãi suất trên nợ gốc quá hạn đối với các khoản nợ nêu trên theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng và các thỏa thuận kèm theo đến thời điểm Công ty T2 hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ trả nợ với Công ty N.

Áp dụng Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện, nguyên đơn Công ty N yêu cầu Công ty T2 phải thanh toán số tiền còn nợ theo Hợp đồng mua bán số 10/VTL-XNKMT/2018 ngày 05/5/2018 và Hợp đồng mua bán số 11/VTL-XNKMT/2018 ngày 10/5/20 nên xác định đây là vụ án Kinh doanh thương mại tranh chấp về Hợp đồng mua bán. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết tại Tòa án nơi có trụ sở của nguyên đơn là Công ty N có trụ sở tại số A phố G, phường K, quận B, thành phố Hà Nội nên Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý giải quyết vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2].Về nội dung: Công ty N và Công ty T2 ký Hợp đồng mua bán số10/VTL-XNKMT/2018 ngày 05/5/2018 và Hợp đồng mua bán số 11/VTL-XNKMT/2018 ngày 10/5/2018 về việc mua bán sản phẩm dầu đậu tương. Số lượng hàng hóa được giao theo quy định trong hợp đồng. Hợp đồng mua bán dựa trên ý chí tự nguyện thỏa thuận của hai bên, hình thức và trình tự ký kết hợp đồng tuân theo các quy định của pháp luật, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, nên có giá trị thực hiện.

Thực hiện các hợp đồng trên, Công ty TNHH N đã cung cấp và bàn giao đầy đủ số lượng theo hợp đồng đã ký kết đồng thời xuất đủ hóa đơn cho Công ty T2. Hai bên đã thống nhất về các khoản công nợ tại thỏa thuận về thanh toán công nợ, thỏa thuận về lộ trình thanh toán.

Tại phiên tòa, Công ty T2 cũng thừa nhận toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi đúng như yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH N nên Công ty N đề nghị Toà án giải quyết buộc Công ty T2 phải trả Công ty N số tiền gốc 10.347.421.382 đồng và số tiền lãi 3.398.023.928 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3]. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty T2 phải nộp số tiền 121.745.445 đồng. Công ty N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 60.460.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0030626 ngày 08/10/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ba Đình.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 357; Điều 430; Điều 440; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Áp dụng các Điều 2, Điều 6; Điều 7; Điều 9; Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;

- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty TNHH N đối với Công ty TNHH T2 về việc tranh chấp Hợp đồng mua bán số 10/VTL-XNKMT/2018 và Hợp đồng mua bán số 11/VTL-XNKMT/2018 ngày 10/5/2018.
  2. Buộc Công ty TNHH T2 phải thanh toán cho Công ty TNHH N tổng số tiền tính đến ngày 11/4/2025 là 13.745.445.310 (Mười ba tỷ, bảy trăm bốn mươi lăm triệu, bốn trăm bốn mươi lăm nghìn, ba trăm mười đồng); Trong đó số tiền nợ gốc là: 10.347.421.382 đồng; tiền nợ lãi là: 3.398.023.928 đồng.
  3. Kể từ ngày 12/4/2025, Công ty TNHH T2 còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành xong bản án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH T2 phải nộp số tiền án phí là 121.745.445 đồng (Một trăm hai mươi mốt triệu, bảy trăm bốn mươi lăm nghìn, bốn trăm bốn mươi lăm đồng). Công ty TNHH N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 60.460.000 đồng (Sáu mươi triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0030626 ngày 08/10/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ba Đình.
  2. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật./

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Ba Đình;
  • - Chi cục THADS quận Ba Đình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

ĐINH NGỌC LIÊN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/KDTM-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng mua bán

  • Số bản án: 26/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: CÔNG TY TNHH N; Địa chỉ trụ sở chính: Số A phố G, phường K, quận B, thành phố Hà Nội; Địa chỉ liên hệ: Tòa nhà H, số A ngõ A phố D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn H – Chức vụ: Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng A, bà Lương Thị Thương T, bà Nguyễn Thị Vân A1 (Ông Hoàng A, bà Vân A1 có mặt). - Bị đơn: CÔNG TY TNHH T2; Địa chỉ trụ sở: F L, phường A, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T1 – Chức vụ: Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tiết Đức A2 (Có mặt).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger