|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:26/2025/HS-ST Ngày: 26 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Văn Chỉnh;
Ông Phạm Kim An.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phương – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà: Ông Ngô Văn Thành – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Phạm Thành Đ, sinh ngày 08 tháng 3 năm 1997; nơi cư trỳ: Xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ1 sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1959 cựng trỳ tại xúm D, xó X; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; có vợ là Đoàn Thị P, sinh năm 2001; có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị ỏp dụng biện phỏp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trỳ đến từ 19/12/2024 đến nay; “có mặt".
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Cao Trung Đ2, sinh năm 1997; nơi cư trú: Xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định “có mặt”.
- Anh Vũ Ngọc T, sinh năm 1998 nơi cư trú: Xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; “ có mặt”.
- Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1999; nơi cư trú: Xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
- Người làm chứng:
- Anh Phạm Văn H; “có mặt”.
- Ông Cao Văn T1; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thành Đ, sinh năm 1997, trú tại xóm D, xã X, huyện X và các anh Cao Trung Đ2, sinh năm 1999; Vũ Ngọc T, sinh năm 1998; Nguyễn Văn Q, sinh năm 1999, đều trú tại: xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định quen nhau từ trước. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên từ tháng 9/2023 đến tháng 10/2024, anh Cao Trung Đ2 đã 16 lần vay tiền của Đ, tổng số tiền là 155.000.000 đồng với mức lãi suất 3.000 đồng/1triệu/1ngày, tương đương mức lãi suất 108%/năm, gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. Anh Vũ Ngọc T vay của Đ 02 lần, tổng số tiền là 30.000.000 đồng với mức lãi suất là 3.000 đồng/1triệu/1ngày, tương đương mức lãi suất 108%/năm, gấp 5,4 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. Anh Nguyễn Văn Q vay của Đ 12 lần, tổng số tiền là 121.000.000 đồng với mức lãi suất là 4.000 đồng/1triệu/1ngày và 1.000.000 đồng/10 triệu/1 tháng, tương đương mức lãi suất 120%/năm đến 144%/năm, gấp từ 6 lần đến 7,2 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự. Sau khi thỏa thuận xong lãi suất thì Đ chuyển tiền từ tài khoản Ngân hàng V số 1020185370 mang tên Phạm Thành Đ đến số tài khoản của anh Đ2, T và Q. Sau đó, anh Đ2, T, Q thanh toán trả tiền gốc, tiền lãi trực tiếp bằng tiền mặt hoặc qua chuyển khoản cho Đ. Đ tính lãi theo tháng là 30 ngày, người vay sẽ trả tiền lãi vào ngày trùng ngày vay tiền của tháng tiếp theo.
Căn cứ tài liệu điều tra thu thập được, Cơ quan CSĐT Công an huyện X đã xác định rõ các khoản cho vay, số tiền lãi đã thu, số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp của Phạm Thành Đ, cụ thể như sau:
* Các khoản Đ cho anh Cao Trung Đ2 vay:
+ Lần thứ nhất: Ngày 05/6/2024, Đ cho anh Đ2 vay 10.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/10/2024, anh Đ2 phải trả cho Đ tiền lãi của 128 ngày là 3.840.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, số tiền lãi hợp pháp người cho vay được hưởng tối đa là 20%/năm của khoản tiền vay (tức tiền gốc). Trong trường hợp này, Đ được hưởng số tiền lãi hợp pháp của 128 ngày là: (10.000.000 đồng x 20% : 12 tháng) : 30 x 128 = 711.111 đồng. Số tiền Đ sẽ thu lợi bất chính là: 3.840.000 đồng – 711.111 đồng = 3.128.889 đồng.
Tương tự cách tính như trên đối với các lần vay khác như sau:
+ Lần thứ hai: Ngày 06/6/2024, Đ cho anh Đ2 vay 10.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/10/2024 anh Đ2 phải trả cho Đ 127 ngày tiền lãi là 3.810.000 đồng. Số tiền Đ sẽ thu lợi bất chính là: 3.104.445 đồng.
+ Lần thứ ba: Ngày 07/6/2024, Đ cho anh Đ2 vay 15.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/10/2024 anh Đ2 phải trả cho Đ 126 ngày tiền lãi là 5.670.000 đồng. Số tiền sẽ thu lợi bất chính là: 4.620.00 đồng.
+ Lần thứ tư: Ngày 10/6/2024, Đ cho anh Đ2 vay 10.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/10/2024 anh Đ2 phải trả cho Đ 123 ngày tiền lãi là 3.690.000 đồng. Số tiền sẽ thu lợi bất chính là: 3.006.667 đồng.
+ Lần thứ năm: Ngày 10/6/2024, Đ cho anh Đ2 vay 10.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/10/2024 anh Đ2 phải trả cho Đ 123 ngày tiền lãi là 3.690.000 đồng. Số tiền sẽ thu lợi bất chính là: 3.006.667 đồng.
+ Lần thứ sáu: Ngày 13/6/2024, Đ cho anh Đ2 vay 5.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/10/2024 anh Đ2 phải trả cho Đ 120 ngày tiền lãi là 1.800.000 đồng. Số tiền sẽ thu lợi bất chính là: 1.466.667 đồng.
+ Lần thứ bảy: Ngày 18/6/2024, Đ cho anh Đ2 vay 10.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/10/2024 anh Đ2 phải trả cho Đ 115 ngày tiền lãi là 3.450.000 đồng. Số tiền sẽ thu lợi bất chính là: 2.811.112 đồng.
+ Lần thứ tám: Ngày 25/6/2024, Đ cho anh Đ2 vay 15.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/10/2024 anh Đ2 phải trả cho Đ 40 ngày tiền lãi là 4.860.000 đồng. Số tiền sẽ thu lợi bất chính là: 3.960.000 đồng.
+ Lần thứ chín: Ngày 03/7/2024, Đ cho anh Đ2 vay 10.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/10/2024 anh Đ2 phải trả cho Đ 100 ngày tiền lãi là 3.000.000 đồng. Số tiền sẽ thu lợi bất chính là: 2.444.445 đồng.
+ Lần thứ mười: Ngày 03/7/2024, Đ cho anh Đ2 vay 5.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/10/2024 anh Đ2 phải trả cho Đ 100 ngày tiền lãi là 1.500.000 đồng. Số tiền sẽ thu lợi bất chính là: 1.222.223 đồng.
+ Lần thứ mười một: Ngày 11/7/2024, Đ cho anh Đ2 vay 10.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/10/2024 anh Đ2 phải trả cho Đ 92 ngày tiền lãi là 2.760.000 đồng. Số tiền sẽ thu lợi bất chính là: 2.248.889 đồng.
+ Lần thứ mười hai: Ngày 24/7/2024, Đ cho anh Đ2 vay 10.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/10/2024 anh Đ2 phải trả cho Đ 79 ngày tiền lãi là 2.370.000 đồng. Số tiền sẽ thu lợi bất chính là: 1.931.112 đồng.
+ Lần thứ mười ba: Ngày 24/7/2024, Đ cho anh Đ2 vay 10.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/10/2024 anh Đ2 phải trả cho Đ 79 ngày tiền lãi là 2.370.000 đồng. Số tiền sẽ thu lợi bất chính là: 1.931.112 đồng.
+ Lần thứ mười bốn: Ngày 04/8/2024, Đ cho anh Đ2 vay 10.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/10/2024 anh Đ2 phải trả cho Đ 69 ngày tiền lãi là 2.070.000 đồng. Số tiền sẽ thu lợi bất chính là: 1.686.667 đồng.
+ Lần thứ mười năm: Ngày 13/8/2024, Đ cho anh Đ2 vay 5.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/10/2024 anh Đ2 phải trả cho Đ 60 ngày tiền lãi là 900.000 đồng. Số tiền sẽ thu lợi bất chính là: 733.334 đồng.
+ Lần thứ mười sáu: Ngày 28/8/2024, Đ cho anh Đ2 vay 10.000.000 đồng, với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/10/2024 anh Đ2 phải trả cho Đ 45 ngày tiền lãi là 1.350.000 đồng. Số tiền sẽ thu lợi bất chính là: 1.100.000 đồng.
Như vậy, Phạm Thành Đ đã cho anh Cao Trung Đ2 vay tiền 16 lần với tổng số tiền gốc là 155.000.000 đồng. Số tiền lãi theo thỏa thuận anh Đ2 phải trả cho Đ tính đến ngày 13/10/2024 là 47.130.000 đồng nhưng anh Đ2 mới chuyển khoản trả cho Đ được 19.350.000 đồng tiền lãi. Đến ngày 13/10/2024, gia đình anh Đ2 đã trả cho Đ số tiền gốc anh Đ2 đã vay là 155.000.000 đồng. Vì vậy trong số tiền lãi đã thu của anh Đ2 là 19.350.000 đồng thì tiền lãi được thu là 8.727.771 đồng, số thu lợi bất chính là 10.622.229 đồng. Số tiền lãi anh Đ2 chưa trả Đ là 27.780.000 đồng. Sau khi nhận tiền gốc, Đ tự cho anh Đ2 số lãi chưa trả.
* Các khoản Đ cho anh Vũ Ngọc T vay:
+ Lần thứ nhất: Ngày 04/10/2023, Đ cho anh T vay 10.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/01 ngày tương đương mức lãi suất 108%/năm. Đến ngày 04/8/2024, anh T đã trả cho Đ 10 tháng tiền lãi là 9.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 9.000.000 đồng – (10.000.000 đồng x20% :12 tháng) x 10 = 7.333.334 đồng.
+ Lần thứ hai: Ngày 04/3/2024, Đ cho anh T vay 20.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/01 ngày tương đương mức lãi suất 108%/năm. Đến ngày 04/8/2024, anh T đã trả cho Đ 05 tháng tiền lãi là 9.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 7.333.334 đồng.
Như vậy, Phạm Thành Đ đã cho anh Vũ Ngọc T vay tiền 02 lần với tổng số tiền gốc là 30.000.000 đồng. Số tiền lãi Đ đã thu của anh T là 18.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 14.666.668 đồng. Anh T chưa trả cho Đ 30.000.000 tiền gốc.
* Các khoản Đ cho anh Nguyễn Văn Q vay:
+ Lần thứ nhất: Ngày 10/9/2023, Đ cho anh Q vay 5.000.000 đồng, với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương đương 144%/năm. Đến ngày 10/10/2023 anh Q đã trả cho Đ 01 tháng tiền lãi là 600.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 516.667 đồng.
+ Lần thứ hai: Ngày 04/10/2023, Đ cho anh Q vay 16.000.000 đồng, với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày trong thời hạn 15 ngày. Anh Q trả trước tiền lãi tính đến 19/10/2023 là 960.000 đồng nhưng Đ chỉ lấy 920.000 đồng. Số tiền Đ thu lợi bất chính là: 786.667 đồng. Ngày 10/10/2023, Đ và anh Q thống nhất cộng khoản vay lần thứ nhất và lần thứ hai thành 21.000.000 đồng, lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 24/7/2024, anh Q đã trả cho Đ 09 tháng tiền lãi là 10.800.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 9.300.000 đồng.
+ Lần thứ ba: Ngày 30/11/2023, Đ cho anh Q vay 10.000.000 đồng, với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 30/5/2024 anh Q đã trả 10.000.000 đồng tiền gốc và 06 tháng tiền lãi là 7.200.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 6.200.000 đồng.
+ Lần thứ tư: Ngày 02/01/2024, Đ cho anh Q vay 10.000.000 đồng, với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 02/7/2024 anh Q đã trả cho Đ 06 tháng tiền lãi là 7.200.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 6.200.000 đồng.
+ Lần thứ năm: Ngày 13/3/2024, Đ cho anh Q vay 5.000.000 đồng, với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/7/2024 anh Q đã trả cho Đ 04 tháng tiền lãi là 2.400.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 2.066.667 đồng.
+ Lần thứ sáu: Ngày 13/4/2024, Đ cho anh Q vay 5.000.000 đồng, với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 13/7/2024 anh Q đã trả cho Đ 03 tháng tiền lãi là 1.800.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 1.550.000 đồng.
+ Lần thứ bảy: Ngày 17/5/2024, Đ cho anh Q vay 10.000.000 đồng, với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 17/7/2024 anh Q đã trả cho Đ 02 tháng tiền lãi là 2.400.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 2.066.667 đồng.
+ Lần thứ tám: Ngày 07/6/2024, Đ cho anh Q vay 10.000.000 đồng, với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 07/7/2024 anh Q đã trả cho Đ 01 tháng tiền lãi là 1.200.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 1.033.334 đồng.
+ Lần thứ chín: Ngày 24/6/2024, Đ cho anh Q vay 5.000.000 đồng, với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Đến ngày 24/7/2024 anh Q đã trả cho Đ 58.800.000 tiền gốc và 4.400.000 đồng tiền lãi của các lần đã vay trước đó.
Như vậy đến ngày 24/7/2024 anh Q đã vay của Đ 09 lần, tổng số tiền gốc là 76.000.000 đồng và đã trả lãi cho Đ 35.120.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 30.236.669 đồng.
+ Lần thứ mười: Ngày 17/8/2024, Đ cho anh Q vay 20.000.000 đồng, với lãi suất là 1.000.000 đồng/10 triệu/1 tháng, tương đương mức lãi suất 120%/năm. Đến tháng 9/2024 anh Q đã trả cho Đ 01 tháng tiền lãi là 2.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 1.666.667 đồng.
+ Lần thứ mười một: Ngày 24/8/2024, Đ cho anh Q vay 20.000.000 đồng, với lãi suất là 1.000.000 đồng/10 triệu/1 tháng. Đến tháng 9/2024 anh Q đã trả cho Đ 01 tháng tiền lãi là 2.000.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 1.666.667 đồng.
+ Lần thứ mười hai: Ngày 12/9/2024, Đ cho anh Q vay 5.000.000 đồng, với lãi suất là 1.000.000 đồng/10 triệu/1 tháng. Đến tháng 10/2024 anh Q đã trả cho Đ 01 tháng tiền lãi là 500.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là: 416.667 đồng.
Như vậy, Phạm Thành Đ đã cho anh Nguyễn Văn Q 12 lần vay tiền với tổng số tiền gốc là 121.000.000 đồng. Số tiền lãi anh Q phải trả cho Đ tính đến tháng 10/2024 là 39.620.000 đồng, anh Q đã trả tiền lãi cho Đ là 39.020.000 đồng, Đ cho anh Q 600.000 đồng. Số tiền Đ thu lợi bất chính là 33.986.670 đồng. Tổng số tiền gốc anh Q đã trả cho Đ là 76.000.000 đồng, còn nợ 45.000.000 đồng.
Quá trình làm việc với các anh Cao Trung Đ2, Vũ Ngọc T, Nguyễn Văn Q, Cơ quan CSĐT thu giữ của anh Đ2 01 bản sao kê tài khoản ngân hàng T3 số 19037832903010; thu giữ của anh T 01 bản sao kê tài khoản ngân hàng M1 số [...] đã giao dịch chuyển, nhận tiền với tài khoản của Phạm Thành Đ.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thành Đ, Cơ quan cảnh sát điều tra không thu giữ tài liệu, đồ vật gì liên quan đến vụ án.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X, Phạm Thành Đ đã khai nhận hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự để thu lợi bất chính như đã nêu trên và giao nộp 01 bản sao kê tài khoản ngân hàng V số 1020185370 cùng 01 điện thoại Samsung S24 Utra nắp thẻ sim số 0961095657. Về nguồn gốc số tiền dùng cho vay, Đ khai do lao động tích góp mà có.
Cáo trạng số 28/CT-VKSXT ngày 07/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường truy tố bị cáo Phạm Thành Đ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đã đánh giá về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh và hình phạt: Căn cứ khoản 1 điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự:
+ Tuyên bố bị cáo Phạm Thành Đ phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;
+ Xử phạt bị cáo Phạm Thành Đ từ 1 năm 06 tháng đến 1 năm 09 tháng cải tạo không giam giữ.
+ Miễn khấu trừ thu thập cho bị cáo
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ vào các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và các điểm a, b khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Truy thu của bị cỏo Phạm Thành Đ số tiền 248.694.433đ (trong đú tiền gốc là 231.000.000đ; tiền lói 17.694.433đ) để sung ngõn sỏch nhà nước.
Buộc anh Vũ Ngọc T2 phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền gốc đã vay của bị cáo chưa trả cho bị cáo số tiền 30.000.000đ;
Buộc anh Nguyễn Văn Q phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền gốc đã vay của bị cáo chưa trả cho bị cáo số tiền 45.000.000₫.
- Tịch thu sung ngõn sỏch nhà nước 01 điện thoại Samsung S24 Utra vỏ ngoài màu xám nắp thẻ sim số 0961095657 của Phạm Thành Đ.
Bị cáo nhận tội, không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Thành Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được, cùng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2023đến tháng 10/2024, tại xã X, huyện X, Phạm Thành Đ đã cho các anh Cao Trung Đ2, Vũ Ngọc T, Nguyễn Văn Q vay tổng số tiền 306.000.000 đồng. Trong đó: anh Cao Trung Đ2 vay 16 lần, tổng số tiền là 155.000.000 đồng, với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương 108%/năm, vượt quá 05 lần lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định, thu lợi bất chính 10.622.229 đồng; anh Vũ Ngọc T vay 02 lần, tổng số tiền 30.000.000 đồng, với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương 108%/năm, vượt quá 05 lần lãi suất cao nhất do Bộ luật dân sự quy định, thu lợi bất chính 14.666.668 đồng; anh Nguyễn Văn Q vay 12 lần, tổng số tiền 121.000.000 đồng, với lãi suất từ 3.000 đồng/1 triệu/ 1 ngày đến 3.300 đồng/1 triệu/ 1 ngày thu lợi bất chính 33.986.670 đồng. Tổng số tiền Đ thu lợi bất chính từ việc cho các anh Cao Trung Đ2, Vũ Ngọc T, Nguyễn Văn Q vay là 59.275.567 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Thành Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo Phạm Thành Đ “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ mà còn xâm phạm đến lợi ích của công dân được pháp luật bảo về. Bị cáo là người có năng lực hành vi dân sự nhận thức được việc làm của mình xong vì muốn mức lãi suất cao bị cáo bất chất quy định của pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật thì mới tác dụng răn đe phòng ngừa chung.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cỏo khụng phải chịu tỡnh tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo chưa từng bị kết án nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, là lao động chính trong gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.
[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng nên HĐXX áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo, giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát trong thời gian cải tạo là đủ sức răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự; Số tiền thu lời bất chính từ việc cho vay, Phạm Thành Đ đã trả lại cho các anh Cao Trung Đ2, Vũ Ngọc T, Nguyễn Văn Q. Anh Đ2, anh T, anh Q đã nhận và không yêu cầu gì thêm gì về dân sự nữa là phù hợp.
[8] Về xử lý vật chứng và tài sản thu gữi:
Đối với chiếc điện thoại Samsung S24 utra cùng thể sim thu giữ của Đ và tổng số tiền 306.000.000₫ mà Đ đã cho anh Đ2, anh T, anh Q vay, xét đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, sung ngân sách nhà nước, (Trong đó truy thu số tiền 155.000.000đ của Đ cho Đ2 vay; truy thu số tiền 76.000.000đ trong khoản Đ cho Q vay 121.000.000đ, Q còn nợ Đ số tiền là 45.000.000đ.)
Số tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm theo quy định là 17.694.433đ Đạt đã thu của các anh Đ2, T, Q và số tiền gốc đây là số tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu, sung ngân sách nhà nước.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Phạm Thành Đ phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;
- Xử phạt bị cáo Phạm Thành Đ 01 (một) năm 08 (tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Phạm Thành Đ cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của người bị kết án trong việc giám sát, giáo dục người đó.
-Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Phạm Thành Đ.
2. Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Truy thu của bị cỏo Phạm Thành Đ số tiền 248.694.433đ (trong đú tiền gốc là 231.000.000đ; tiền lói 17.694.433đ) để sung ngõn sỏch nhà nước.
Buộc anh Vũ Ngọc T2 phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền gốc đã vay của bị cáo chưa trả cho bị cáo số tiền 30.000.000đ;
Buộc anh Nguyễn Văn Q phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền gốc đã vay của bị cáo chưa trả cho bị cáo số tiền 45.000.000₫.
- Tịch thu sung ngõn sỏch nhà nước 01 điện thoại Samsung S24 Utra vỏ ngoài màu xám nắp thẻ sim số 0961095657 của Phạm Thành Đ.
Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 39/THA ngày 25/02/2025.giữa Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án .
Buộc bị cáo Phạm Thành Đ phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Thành Đ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Cao Trung Đ2, anh Vũ Ngọc T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Phạm Ngọc Long |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tội cho vay lãi lặng trong giao dịch dân sự
