TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 26/2025/DS-ST Ngày 25-3-2025 V/v tranh chấp Hợp đồng thuê tài sản |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thế Sự;
Bà Lê Thị Mai Hương;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Bình - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 114/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp Hợp đồng thuê tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ủy ban nhân dân quận Đ, thành phố Hải Phòng; địa chỉ trụ sở: Số A đường L, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phí Quốc H - Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Đ; bà Phạm Ba L - Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Đ. Là những người đại diện theo ủy quyền theo Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 03/QĐ-UBND ngày 03-01-2025 của ông Trần Khắc K - Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Đ, người đại diện theo pháp luật của UBND quận Đ cho ông Phí Quốc H và bà Phạm Ba L; bà L có mặt, ông H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Vũ Đắc Ý, sinh năm 1954; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Vũ Thị C, sinh năm 1971 và ông Hoàng Đình T, sinh năm 1974; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng; bà C có mặt, ông T vắng mặt.
Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1993; nơi cư trú: Tổ dân phố số A, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 12 năm 2024; Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Ủy ban nhân dân quận Đ trình bày:
Được sự cho phép của Ủy ban nhân dân thành phố H tại Văn bản số 1372/CV-UB ngày 18-11-1996 về việc cho thuê, cho mượn mặt bằng để tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch tại Thị xã Đ, theo đó Ủy ban nhân dân thành phố H đồng ý chủ trương cho thuê, cho mượn mặt bằng tạm thời để tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch tại phường V, thị xã Đ, được sự nhất trí của Ban T2 (nay là quận ủy Đ), Ủy ban nhân dân Thị xã Đ (nay là Ủy ban nhân dân quận Đ). Ngày 31-12-2001, Phòng Địa chính thị xã Đ (nay là Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Đ) là cơ quan được ủy quyền của Ủy ban nhân dân thị xã Đ (nay là Ủy ban nhân dân quận Đ) do ông Lưu Kim T1 - Chức vụ: Trưởng Phòng Địa chính thị xã Đ ký Hợp đồng thuê mượn mặt bằng tạm thời số 01HĐ/ĐC ngày 04-11-1998 với Bảo hiểm Y tế Thị xã Đ.
Theo Hợp đồng, hai bên thỏa thuận:
Điều 1: Bên A cho bên B thuê 360,0 m² mặt bằng (nằm trên diện tích đất quy hoạch được duyệt) tại khu I, phường V, thị xã Đ để sử dụng vào mục đích Kinh doanh - Du lịch, vị trí khu đất được xác định theo trích đo tờ bản đồ số 10; tỷ lệ 1/300 do Phòng Địa chính thị xã Đ lập ngày 8-10-1998 (có trích đo bản đồ kèm theo). Thời hạn cho thuê mặt bằng tạm thời là 01 năm từ ngày 04-11-1998 đến ngày 04-11-1999.
Điều 2: Việc xây dựng công trình trên mặt bằng phải phù hợp với mục đích như trong Điều 1, phải theo mẫu thiết kế quy định và có giấy phép xây dựng của cơ quan có thẩm quyền.
Điều 3: Trong thời gian thực hiện hợp đồng, bên B không được chuyển giao việc sử dụng mặt bằng cho các tổ chức, cá nhân khác dưới bất kỳ hình thức nào. Hợp đồng thuê mặt bằng tạm thời đương nhiên hết hiệu lực trong các trường hợp sau đây:
- Hết thời hạn thuê mặt bằng;
- Bên B bị thu hồi Hợp đồng và các giấy phép hoạt động kinh doanh trước thời hạn hoặc vi phạm các quy định của Luật Đất đai và các quy định pháp luật khác của Nhà nước.
- Vi phạm các cam kết trong hợp đồng này.
Điều 4: Người sử dụng mặt bằng tạm thời phải trả tiền sử dụng mặt bằng, tiền thuê mặt bằng được tính từ ngày 04-11-1998 và nộp vào Kho bạc Nhà nước thị xã Đ. (Mức tính tiền cho thuê do Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng địa chính và Chi cục thuế thị xã Đ trình cấp có thẩm quyền quyết định).
Thời gian nộp: 30-11-1998 tại C.
Điều 5: Khi có quyết định thu hồi của cấp có thẩm quyền người sử dụng mặt bằng phải tự tháo dỡ vật kiến trúc... trả lại mặt bằng cho Nhà nước mà không được đền bù. Nếu cố tình vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành và chịu mọi phí tổn do việc cưỡng chế, tháo dỡ nếu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp này.
Điều 6: Trường hợp được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép thay đổi mục đích sử dụng, diện tích, giá thuê mặt bằng hoặc có quy định cụ thể về hợp đồng thuê mượn mặt bằng tạm thời theo mẫu của Nhà nước, bên A hướng dẫn bên B làm thủ tục thuê đất với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Sau khi được Phòng địa chính Thị xã Đ ký Hợp đồng số 01/HĐ-ĐC ngày 04-11-1998, Bảo hiểm Y tế Thị xã Đ đại diện là ông Bùi Mạnh D đã tự ý ký Hợp đồng liên doanh kinh tế khai thác du lịch Đ ngày 26-3-2002 với ông Vũ Đắc Ý, cho ông Ý thuê lại một phần diện tích 84,0m² mà không được sự đồng ý của UBND thị xã Đ. Từ năm 2002 ông Ý quản lý, sử dụng mặt bằng thuê và đầu tư xây dựng thành nhà nghỉ 03 tầng, 16 phòng lấy tên nhà nghỉ T3, tổng diện tích sử dụng thực tế khoảng 215,6m², đến năm 2023 ông Ý đã chuyển nhượng lại toàn bộ nhà nghỉ cùng quyền thuê mặt bằng cho chị Nguyễn Thị Thu H1 (là con gái bà Vũ Thị C) quản lý, sử dụng mặt bằng thuê, việc thỏa thuận giữa hai bên bằng văn bản nhưng không có xác nhận của chính quyền địa phương. Bà C và chị H1 là người trực tiếp quản lý, sử dụng mặt bằng thuê từ năm 2023 đến nay và cải tạo, sửa chữa thành quán K1 kết hợp kinh doanh phòng nghỉ.
Nguồn gốc đất mà UBND quận Đ cho Bảo hiểm y tế Thị xã Đ thuê theo Sổ mục kê và Bản đồ đo vẽ năm 1990 thể hiện mặt bằng cho Bảo hiểm y tế Thị xã Đ do ông Bùi Mạnh D là người đại diện thuê sử dụng vào mục đích làm quán kinh doanh dịch vụ, du lịch thuộc một phần thửa số 05, tờ bản đồ số 10; loại đất ghi: Hoang, chủ sử dụng đất: Không ghi tên chủ sử dụng đất. Theo Bản đồ đo vẽ năm 2013: Mặt bằng cho Bảo hiểm y tế Thị xã Đ thuê để sử dụng vào mục đích làm quán kinh doanh dịch vụ, du lịch thuộc một phần thửa số 04, tờ bản đồ số 71; diện tích 4135,2m²; Loại đất ghi: Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, ký hiệu (SKC); Chủ sử dụng đất ghi: UBND quận Đ.
Quá trình quản lý, sử dụng theo Giấy phép xây dựng công trình kinh doanh dịch vụ tại khu du lịch nghỉ mát Đ số 04/GP-XD ngày 17-11-1998 do Phòng quản lý Đô thị thị xã Đ cấp phép cho Bảo hiểm y tế Đ xây dựng công trình kinh doanh dịch vụ tại khu du lịch nghỉ mát Đ với diện tích 192,0m² gồm các hạng mục: nhà bán hàng cấp 4, phòng nghỉ khép kín và kèm theo hồ sơ thiết kế đã được phê duyệt. Tại thời điểm Bảo hiểm y tế thị xã Đ thuê mặt bằng đã có công trình theo giấy phép xây dựng số 04/GP-XD ngày 17-11-1998. Trong quá trình sử dụng mặt bằng thuê ông Ý đã tự ý cải tạo, sửa chữa, cơi nới xây dựng thành nhà nghỉ 03 tầng nhưng không có giấy phép xây dựng, không đúng với điều khoản Hợp đồng.
Thời hạn Hợp đồng số 01HĐ/ĐC đã hết từ ngày 05-11-1999, tuy nhiên ông Vũ Đắc Ý vẫn đóng tiền thuê đất từ năm 2015 đến năm 2023 số tiền 126.020.000đồng, còn nợ tiền thuê đất tính đến ngày 31-12-2023 là 48.616.000đồng theo Công văn số 17/CCTKV-NV ngày 17-01-2025 của Chi cục thuế khu vực Đ - Kiến Thụy cung cấp. Việc ông Vũ Đắc Ý đóng thuế là nghĩa vụ của người đang sử dụng đất đối với Nhà nước chứ không phải là căn cứ để xác định ông Ý sử dụng đất hợp pháp.
Căn cứ Công văn số 192/BHXH ngày 25-7-2024 và Biên bản làm việc ngày 24-7-2024 giữa BHXH quận Đ với các cá nhân liên quan đến việc thuê mặt bằng tại khu C, khu I, phường V trong đó có ông Vũ Đắc Ý xác định được tại thời điểm ký Hợp đồng số 01/HĐ-ĐC ngày 04-11-1998 là do các cá nhân làm việc tại Bảo hiểm y tế Thị xã Đ tự bỏ tiền để thuê điểm kinh doanh nhưng đóng dấu của Bảo hiểm y tế Thị xã Đ cho đủ thủ tục, tiền thu từ hoạt động kinh doanh không nộp về cho Bảo hiểm y tế thị xã Đ, các cá nhân này cũng không xin phép hoặc có chủ trương chỉ đạo của Bảo hiểm y tế thành phố H về việc thuê mặt bằng. Bảo hiểm y tế thị xã Đ không đầu tư kinh doanh, không được hưởng bất kỳ khoản lợi nhuận nào từ việc thuê mặt bằng của UBND thị xã Đ. Do đó Bảo hiểm xã hội quận Đ không có liên quan đến việc khởi kiện của UBND quận Đ cũng như không có nghĩa vụ tháo dỡ các công trình, vật kiến trúc trên mặt bằng thuê để trả lại mặt bằng cho UBND quận Đ. Do vậy xác định Bảo hiểm xã hội quận Đ không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Ông Vũ Đắc Ý đã vi phạm Điều 2, Điều 3 của Hợp đồng về các trường hợp đương nhiên hết hiệu lực.
Ủy ban nhân dân quận Đ đã ra Thông báo số 469/TB-UBND ngày 22-12-2023 về việc thực hiện thanh lý, chấp dứt các hợp đồng cho thuê mặt bằng tạm thời, giấy phép sử dụng mặt bằng tại khu C, khu phường cũ, khu B thuộc phường V, quận Đ; Thông báo số 501/TB-UBND ngày 25-12-2023 về thời gian thực hiện thanh lý chấm dứt hợp đồng đối với những trường hợp cho thuê mặt bằng tạm thời để sử dụng kinh doanh, dịch vụ tại Khu C, Khu B, Khu Phường cũ thuộc phường V đối với ông Vũ Đắc Ý; Thông báo số 55/TB-UBND ngày 21-02-2024 về thời gian thực hiện thanh lý chấm dứt hợp đồng đối với những trường hợp cho thuê mặt bằng tạm thời để sử dụng kinh doanh, dịch vụ tại Khu C, Khu B, Khu Phường cũ thuộc phường V (lần 2) đối với ông Vũ Đắc Ý, bà Vũ Thị C và niêm yết công khai tại quán K1 vào ngày 28-12-2023 và lần 2 ngày 22-02-2024 (thời gian giải quyết việc thanh lý chấm dứt hợp đồng: Từ ngày 27-12-2023 đến ngày 15-01-2024 và từ ngày 21-02-2024 đến ngày 01-3-2024). Ngày 04-3-2024 Ủy ban nhân dân quận Đ ra Thông báo số 134/TB-UBND về việc chấm dứt Hợp đồng thuê mượn mặt bằng tạm thời đối với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ (nay là Bảo hiểm xã hội quận Đ) và ông Vũ Đắc Ý, bà Vũ Thị C tại khu C, phường V, quận Đ kể từ ngày 04-3-2024 và yêu cầu ông Vũ Đắc Ý, vợ chồng bà Vũ Thị C có trách nhiệm tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc, công trình, di dời toàn bộ tài sản để trả lại mặt bằng cho Nhà nước quản lý và không được đền bù, thời gian hoàn thành trước ngày 05-4-2024.
Tuy nhiên đến nay, ông Ý và vợ chồng bà C vẫn không thực hiện ký kết văn bản thanh lý Hợp đồng số 01HĐ/ĐC do hết thời hạn để hoàn trả mặt bằng theo quy định.
Khi tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ thì UBND quận Đ được biết quán K1 2 hiện nay do vợ chồng bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T trực tiếp quản lý, sử dụng.
Việc thu hồi lại mặt bằng cho thuê nhằm mục đích chỉnh trang đô thị, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển du lịch quận Đ, lập hồ sơ đấu giá quyền sử dụng đất vào mục đích phát triển du lịch theo điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 323/QĐ-TTg ngày 30-3-2023, theo chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố tại Thông báo số 360/TB-VP ngày 24-11-2023 của Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố H.
Ủy ban nhân dân quận Đ làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn yêu cầu:
Tuyên buộc ông Vũ Đắc Ý (là người ký Hợp đồng thuê lại của Bảo hiểm y tế Thị xã Đ) và vợ chồng bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T (là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng) phải trả lại cho Ủy ban nhân dân quận Đ 257,57m² mặt bằng (theo đo vẽ thực tế), vị trí khu đất tại trích đo tờ bản đồ số 10, tỷ lệ 1/300 (nay thuộc một phần thửa đất số 04, tờ bản đồ số 71) theo Hợp đồng thuê mặt bằng tạm thời số 01HĐ/ĐC được ký giữa Phòng Địa chính Thị xã Đ với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ (nay là Bảo hiểm xã hội quận Đ).
Tuyên buộc ông Vũ Đắc Ý, vợ chồng bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T phải tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc, công trình xây dựng trên đất để trả lại mặt bằng cho Ủy ban nhân dân quận Đ và không được đền bù như Hợp đồng đã thỏa thuận.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 29-7-2024, ông Vũ Đắc Ý trình bày:
Trước năm 1997, ông được biết Bảo hiểm y tế Thị xã Đ được Phòng địa chính thị xã Đ cho thuê mặt bằng tại khu C, Khu I, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng để kinh doanh; do Bảo hiểm y tế Thị xã Đ không đủ điều kiện để kinh doanh, ông và ông Bùi Mạnh D, Giám đốc Bảo hiểm y tế Thị xã Đ thời điểm đó đã ký kết hợp đồng thuê mặt bằng và liên doanh kinh tế tại một phần khu đất mà Bảo hiểm y tế Thị xã Đ được thuê vào ngày 26-3-2002. Việc ký kết hợp đồng thuê mặt bằng và liên doanh kinh tế tại khu đất được lập thành văn bản, các bên không thỏa thuận về giá cả, sau khi ký kết hợp đồng Bảo hiểm y tế Thị xã Đ đã bàn giao mặt bằng cho ông để quản lý, sử dụng. Tại thời điểm ký kết Hợp đồng, mặt bằng vẫn hoàn toàn là mặt nước, không có đất, không có bất kỳ công trình, vật kiến trúc nào trên đất, chỉ có đường nhựa rộng khoảng 6m để vào khu mặt bằng, không có công trình điện, nước nào trên khu đất ông thuê lại của Bảo hiểm y tế Thị xã Đ. Để kinh doanh được dịch vụ du lịch ông đã phải thuê người tôn tạo, bỏ công sức làm giàn sắt, đổ trụ bê tông, tạo mặt bằng sau đó mới tiến hành xây dựng.
Năm 1998, Ủy ban nhân dân Thị xã Đ cấp giấy phép xây dựng công trình kinh doanh dịch vụ cho Bảo hiểm y tế Thị xã Đ nhưng khi đó ông là người đang trực tiếp sử dụng một phần đất thuê lại của Bảo hiểm y tế Thị xã Đ nên ông đã tiến hành xây nhà nghỉ 03 tầng, diện tích theo Hợp đồng là 84,0m² nhưng diện tích thực tế khu đất ông xây dựng khoảng 215,6m², gồm 16 phòng nghỉ lấy tên là nhà nghỉ T3 để kinh doanh phòng nghỉ và dịch vụ ăn uống. Khi xây dựng nhà nghỉ 03 tầng ông không được UBND hay Cơ quan có thẩm quyền nào ký hợp đồng nhưng các bên vẫn tồn tại quan hệ thuê mặt bằng như trước, ông vẫn đóng tiền thuế hàng năm về: Sử dụng mặt bằng thuê đất, thuế kinh doanh, thuế mặt nước (thuế nông nghiệp), việc nộp thuế vẫn diễn ra bình thường, không có thỏa thuận về thời hạn.
Trong quá trình sử dụng, hàng năm ông đều sửa chữa, cải tạo lại nhà nghỉ để phục vụ cho việc kinh doanh. Ngoài giấy phép xây dựng UBND thị xã Đ cấp cho Bảo hiểm y tế thị xã Đ vào năm 1998 thì ông không có bất cứ giấy phép xây dựng nào khác. Ông cũng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhà nghỉ T3.
Đến năm 2023, do không còn nhu cầu sử dụng, ông đã chuyển nhượng toàn bộ các tài sản, vật kiến trúc trên đất và quyền thuê đất cho bà Vũ Thị C. Hai bên có lập thành văn bản nhưng không có xác nhận của chính quyền địa phương. Thời điểm chuyển nhượng trên mặt bằng thuê có ngôi nhà 03 tầng, gồm 16 phòng nghỉ do ông xây dựng. Bà C đã được bàn giao toàn bộ mặt bằng, tài sản, công trình vật kiến trúc trên đất và bà C là người nộp tiền thuê đất cùng các khoản tiền thuế khác cho Nhà nước từ năm 2023. Sau khi nhận chuyển nhượng bà C đầu tư sửa chữa, cải tạo thành quán K1. Việc chuyển nhượng lại nhà nghỉ T3 giữa ông và bà C hoàn toàn tự nguyện, không ai lừa dối, ép buộc ai. Khi chuyển nhượng nhà nghỉ T3, ông đã bàn giao lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến việc thuê đất cho bà C. Đến nay, ông không còn lưu giữ tài liệu gì.
Về yêu cầu khởi kiện của UBND quận Đ về việc buộc ông và vợ chồng bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T phải trả lại cho UBND quận Đ tài sản thuê là diện tích 257,57m² mặt bằng (theo đo vẽ thực tế) tại khu C, khu I, phường V, quận Đ vị trí khu đất được xác định theo trích đo tờ bản đồ số 10, tỷ lệ 1/300 (nay thuộc một phần thửa đất số 04, tờ bản đồ số 71) do Phòng Địa chính thị xã Đ lập ngày 08-10-1998 theo Hợp đồng thuê mặt bằng tạm thời số 01HĐ/ĐC ngày 04-11-1998 và phải tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc, công trình đã xây dựng trên đất để trả lại mặt bằng cho UBND quận Đ và không được đền bù như Hợp đồng đã thỏa thuận, ông có ý kiến như sau:
Hiện tại ông không còn liên quan gì đến quyền lợi tại khu đất này do đã chuyển nhượng và bàn giao các giấy tờ liên quan đến việc thuê đất, tài sản trên đất cho bà Vũ Thị C. Mọi vấn đề có liên quan đến việc UBND quận Đ khởi kiện đề nghị TAND quận Đồ Sơn và UBND quận Đ làm việc trực tiếp với bà C.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 05-8-2024, bà Vũ Thị C trình bày:
Bà hiện là người đang trực tiếp quản lý, kinh doanh quán K1 ở khu C, khu I, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Quán Karaoke Hương L1 2 cùng các tài sản có trên đất là do bà nhận chuyển nhượng của ông Vũ Đắc Ý vào tháng 02 năm 2023. Khi nhận chuyển nhượng từ ông Vũ Đắc Ý, bà được biết ông Ý được Bảo hiểm y tế Thị xã Đ (nay là Bảo hiểm xã hội quận Đ) cho thuê lại mặt bằng để kinh doanh từ năm 1997 và Hợp đồng cuối cùng ông Ý được ký với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ là Hợp đồng thuê mặt bằng và liên doanh kinh tế ngày 26-3-2002. Ngoài Hợp đồng này giữa ông Ý và Bảo hiểm y tế Thị xã Đ không ký thêm hợp đồng nào khác nhưng giữa hai bên vẫn tồn tại quan hệ thuê mặt bằng như trước. Sau khi được Bảo hiểm y tế Thị xã Đ cho thuê mặt bằng, ông Ý đã đầu tư xây dựng nhà nghỉ T3 03 tầng, sau đó chuyển nhượng lại cho bà vào năm 2023. Sau khi nhận chuyển nhượng bà đã cơi nới, sửa chữa, chuyển đổi thành quán K1 để kinh doanh, gồm 04 phòng Karaoke và 11 phòng nghỉ. Do bà đã kinh doanh 01 quán Karaoke tại Khu I nên nhờ con gái là Nguyễn Thị Thu H1 đứng tên trên Hợp đồng chuyển nhượng nhà nghỉ T3 với ông Ý, cũng như đứng tên hộ bà trên giấy phép kinh doanh quán K1 còn thực tế bà mới là người sử dụng mặt bằng và hàng năm vẫn đóng tiền thuế đầy đủ, không có thỏa thuận về thời hạn, chị H1 không đóng góp công sức, tiền của gì vào quán K1. Theo bà, việc UBND Thị xã Đ (nay là UBND quận Đ) không ký hợp đồng với ông Ý1 bà nhưng vẫn tiếp tục thu các khoản thuế hàng năm của ông Ý và bà, các ông bà vẫn thống nhất nộp các khoản tiền này, điều này thể hiện rằng giữa hai bên mặc dù không ký hợp đồng bằng văn bản nhưng vẫn thừa nhận quan hệ hợp đồng với nhau. Việc chuyển nhượng nhà nghỉ T3 giữa ông Ý và bà là hoàn toàn là tự nguyện, không ai ép buộc, lừa dối ai, hai bên có lập thành văn bản, giá chuyển nhượng là 3.000.000.000đồng, bà đã trả tiền ông Ý đầy đủ, ông Ý gia L2 lại cho bà 20.000.000đồng. Tại thời điểm bà nhận chuyển nhượng, nhà nghỉ T3 đã được xây dựng là nhà kiên cố có 03 tầng, gồm 16 phòng nghỉ do ông Ý xây dựng. Khi chuyển nhượng ông Ý đã bàn giao lại toàn bộ quyền thuê mặt bằng, các giấy tờ có liên quan đến việc thuê mặt bằng, tài sản, vật kiến trúc trên đất cho bà. Kể từ khi nhận chuyển nhượng vào tháng 02 năm 2023 mặc dù thông báo nộp thuế vẫn mang tên ông Vũ Đắc Ý nhưng bà là người thực hiện việc nộp tiền thuê đất cho Nhà nước. Bà khẳng định toàn bộ số tiền chuyển nhượng nhà nghỉ T3 và tiền thuê đất bà nộp cho Nhà nước là của vợ chồng bà, không liên quan đến bất kỳ ai khác. Hiện tại vợ chồng bà đang trực tiếp quản lý, sử dụng quán K1 để kinh doanh dịch vụ Karaoke kết hợp lưu trú. Ông Ý không còn bất kỳ quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến nhà nghỉ T3 (nay bà đổi tên thành quán K1). Sau khi nhận chuyển nhượng, bà đã thực hiện việc đăng ký kinh doanh tại quán K1 và được Phòng Tài chính - Kế hoạch quận Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh vào ngày 10-7-2023.
Về yêu cầu khởi kiện của UBND quận Đ, bà có ý kiến như sau:
Đối với chủ trương thu hồi đất để chỉnh trang đô thị, xây dựng khu du lịch khang trang bà hoàn toàn đồng ý. Tuy nhiên, khi thực hiện việc thu hồi đất thì bà đề nghị Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ, bồi thường cho vợ chồng bà thỏa đáng với số tiền vợ chồng bà đã bỏ ra để nhận chuyển nhượng nhà nghỉ Thảo D1 cũng như đầu tư, sửa chữa xây quán K1 như giá mà Hội đồng định giá đã đưa ra tại Biên bản định giá tài sản ngày 20-01-2025 là 2.947.847.500đ (Hai tỷ chín trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm) đồng.
Nếu phải di dời phục vụ quy hoạch của Nhà nước bà đề nghị Nhà nước quan tâm cho thuê một diện tích mặt bằng khác để vợ chồng bà tiếp tục kinh doanh tạo việc làm, thu nhập, đảm bảo duy trì cuộc sống cho gia đình, bà cũng sẽ có nghĩa vụ đóng thuế đầy đủ cho Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 08-8-2024, chị Nguyễn Thị Thu H1 trình bày:
Chị hoàn toàn nhất trí với lời trình bày của mẹ chị là bà Vũ Thị C tại biên bản lấy lời khai ngày 05-8-2024. Do mẹ chị đã kinh doanh 01 quán Karaoke tại Khu I, phường V, quận Đ nên nhờ chị đứng tên trên Hợp đồng chuyển nhượng nhà nghỉ T3 với ông Ý, cũng như đứng tên hộ mẹ chị trên giấy phép kinh doanh quán K1 còn thực tế mẹ chị mới là người trực tiếp quản lý, sử dụng mặt bằng. Toàn bộ tiền trả cho ông Ý để nhận chuyển nhượng, tiền đầu tư, sửa chữa xây dựng quán K1 2 sau này là tài sản chung của mẹ chị Vũ Thị C và bố chị Hoàng Đình T, chị không đóng góp tiền của, công sức gì để nhận chuyển nhượng cũng như đầu tư xây dựng quán K1 nên chị đề nghị Tòa án không cho chị vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Mọi vấn đề có liên quan đến việc UBND quận Đ khởi kiện đề nghị TAND quận Đồ Sơn và UBND quận Đ làm việc trực tiếp với mẹ chị là bà Vũ Thị C.
Tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23-8-2024 thể hiện khu đất do bà Vũ Thị C đang quản lý, sử dụng để kinh doanh quán K1 (trên cơ sở Hợp đồng số 01HĐ/ĐC ngày 04-11-1998) thuộc một phần thửa đất số 04, tờ bản đồ số 71, địa chỉ: Khu C, khu I, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng, tổng diện tích qua đo vẽ thực tế là 257,57m², các tài sản gắn liền trên đất bao gồm 01 tòa nhà 03 tầng, 01 tầng hầm, xây dựng kết cấu kiên cố, tường xây gạch chỉ 220cm, 04 phòng karaoke, 11 phòng nghỉ.
Theo Biên bản định giá tài sản ngày 20-01-2025, các công trình, vật kiến trúc trên đất sau khi đã tính khấu hao giá trị tài sản còn lại là 2.947.847.500đ (Hai tỷ chín trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm) đồng.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Vũ Đắc Ý và vợ chồng bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T phải trả lại cho Ủy ban nhân dân quận Đ 257,57m² mặt bằng (theo đo vẽ thực tế), vị trí khu đất tại trích đo tờ bản đồ số 10, tỷ lệ 1/300 (nay thuộc một phần thửa đất số 04, tờ bản đồ số 71) theo Hợp đồng thuê mặt bằng tạm thời số 01HĐ/ĐC được ký giữa Phòng Địa chính Thị xã Đ với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ (nay là Bảo hiểm xã hội quận Đ). Buộc ông Vũ Đắc Ý và vợ chồng bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T phải tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc, công trình xây dựng trên đất để trả lại mặt bằng cho Ủy ban nhân dân quận Đ và không được đền bù như Hợp đồng đã thỏa thuận. Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với các chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản.
Tại phiên tòa, bà Vũ Thị C trình bày:
Bà đồng ý trả lại mặt bằng cho Ủy ban nhân dân quận Đ là 257,57m² (theo đo vẽ thực tế), vị trí khu đất tại trích đo tờ bản đồ số 10, tỷ lệ 1/300 (nay thuộc một phần thửa đất số 04, tờ bản đồ số 71) theo Hợp đồng thuê mặt bằng tạm thời số 01HĐ/ĐC được ký giữa Phòng Địa chính Thị xã Đ với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ (nay là Bảo hiểm xã hội quận Đ) và đồng ý tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc, công trình xây dựng trên đất để trả lại mặt bằng cho Ủy ban nhân dân quận Đ. Tuy nhiên bà đề nghị UBND quận Đ hỗ trợ cho bà một phần kinh phí để di dời các tài sản, đồng thời tạo điều kiện cho bà là hộ phá dỡ cuối cùng để bà có thời gian bán các tài sản đã đầu tư vào quán K1 thu hồi lại được phần nào số tiền đã bỏ ra.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và về việc giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; nguyên đơn; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà C đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị H1, ông T chưa chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét công khai tại phiên tòa và lời khai của các bên đương sự đề nghị Hội đồng xét xử:
Đối với yêu cầu buộc ông Vũ Đắc Ý và vợ chồng bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T phải trả lại cho Ủy ban nhân dân quận Đ 257,57m² mặt bằng (theo đo vẽ thực tế), vị trí khu đất tại trích đo tờ bản đồ số 10, tỷ lệ 1/300 (nay thuộc một phần thửa đất số 04, tờ bản đồ số 71) theo Hợp đồng thuê mặt bằng tạm thời số 01HĐ/ĐC được ký giữa Phòng Địa chính Thị xã Đ với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ (nay là Bảo hiểm xã hội quận Đ):
Ngày 04-11-1998, Phòng Địa chính Thị xã Đ (nay là Phòng Tài nguyên môi trường quận Đ) ký kết hợp đồng thuê mặt bằng số 01HĐ/ĐC ngày 04-11-1998 để tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch tại phường V, Thị xã Đ với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ. Nội dung của hợp đồng cơ bản như sau: Bảo hiểm y tế Thị xã Đ được thuê 360,0m² mặt bằng diện tích đất nằm trên diện tích đất quy hoạch được duyệt tại khu I, phường V; vị trí khu đất được xác định theo trích đo tờ bản đồ số 10, tỉ lệ 1/300 do Phòng Địa chính thị xã Đ lập ngày 08-10-1998; Thời hạn cho thuê một năm, từ ngày 04-11-1998 đến ngày 04-11-1999; tiền thuê mặt bằng được tính từ ngày 04-11-1998 đến ngày 04-11-1999 và nộp vào Kho bạc Nhà nước thị xã Đ. Hợp đồng số 01HĐ/ĐC được ký kết trên cơ sở tự nguyện giữa các bên. Đây là Hợp đồng thuê tài sản theo quy định tại Điều 476 đến 479 Bộ luật Dân sự năm 1995.
Ngày 26-3-2002, ông Bùi Mạnh D, Giám đốc Bảo hiểm y tế Thị xã Đ đã ký Hợp đồng thuê mặt bằng và liên doanh kinh tế với ông Vũ Đắc Ý, cho ông Ý thuê lại mặt bằng thời hạn 01 năm kể từ ngày 26-3-2002 đến ngày 31-12-2005.
Đến năm 2023 do không còn nhu cầu sử dụng, ông Ý đã chuyển nhượng lại toàn bộ tài sản, công trình vật kiến trúc cùng quyền thuê mặt bằng cho bà Vũ Thị C là người trực tiếp quản lý, sử dụng mặt bằng cho đến nay.
Đến ngày 05-11-1999 hết hạn hợp đồng, các bên không có văn bản thỏa thuận về việc gia hạn hợp đồng, không có thỏa thuận khác nhưng bên thuê vẫn tiếp tục sử dụng, bên cho thuê không yêu cầu trả lại mặt bằng, bên thuê vẫn tiếp tục nộp tiền thuế thuê đất hằng năm vào Ngân sách nhà nước theo thông báo của Chi cục Thuế Thị xã Đ (nay là Chi cục thuế khu vực Đ-K). Do đó cần coi Hợp đồng số 01HĐ/ĐC được hai bên chấp nhận tiếp tục thực hiện, phù hợp với ý chí và quyền lợi của mỗi bên.
Trong quá trình sử dụng mặt bằng, ông Ý đã xây dựng nhà nghỉ T3 thành nhà 03 tầng kiên cố không xin Giấy phép xây dựng, không xây dựng theo Giấy phép xây dựng số 04/GP-XD ngày 17-11-1998 của Phòng Quản lý đô thị Thị xã cấp phép cho Bảo hiểm y tế Thị xã Đ. Sau khi chuyển nhượng cho bà Vũ Thị C vào năm 2023, bà C tiến hành sửa chữa, cơi nới thành quán K1 không xin Giấy phép xây dựng.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23-8-2024 thể hiện: Thửa đất có diện tích thực tế là 257,57m², tài sản trên đất gồm 01 tòa nhà 03 tầng, 01 tầng hầm, xây dựng kết cấu kiên cố, tường xây gạch chỉ 220cm, 04 phòng karaoke, 11 phòng nghỉ.
Ngày 22-12-2023, UBND quận Đ đã thông báo cho bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về việc chấm dứt hợp đồng, yêu cầu thanh lý hợp đồng. Đến ngày 04-3-2024, UBND quận Đ thông báo chấm dứt hợp đồng yêu cầu bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải trả lại mặt bằng, tự tháo dỡ các công trình trên đất và không được đền bù.
Như vậy, khi thông báo chấm dứt hợp đồng thì UBND quận Đ có quyền yêu cầu bị đơn là ông Ý, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà C, ông T phải trả lại mặt bằng, tự tháo dỡ các công trình trên đất theo quy định tại khoản 2 Điều 165, khoản 1 Điều 166, Điều 482 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn UBND quận Đ, buộc bị đơn là ông Vũ Đắc Ý và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T phải trả lại cho Ủy ban nhân dân quận Đ 257,57m² mặt bằng, vị trí khu đất tại trích đo tờ bản đồ số 10; tỷ lệ 1/300 do Phòng Địa chính thị xã Đ lập ngày 08-10-1998 theo Hợp đồng thuê mặt bằng tạm thời số 01HĐ/ĐC ngày 04-11-1998 được ký giữa Phòng Địa chính thị xã Đ với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ đồng thời phải tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc, công trình xây dựng trên diện tích đất và không được đền bù theo Hợp đồng đã thỏa thuận.
Về việc bà C yêu cầu bồi thường giá trị đầu tư công trình trên đất và tại phiên tòa thì đề nghị hỗ trợ tiền di dời tài sản. Nội dung này không được quy định trong hợp đồng, không có sự thỏa thuận nào khác giữa các bên; nguyên đơn không đồng ý việc bồi thường, hỗ trợ nên không có căn cứ để chấp nhận.
Về chi phí thẩm định tại chỗ, chi phí định giá: Do UBND quận Đ không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Vũ Đắc Ý phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng do bị đơn là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30-2-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Ông Vũ Đắc Ý được miễn án phí dân sự sơ thẩm; Bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T, chị Nguyễn Thị Thu H1 đều không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho nguyên đơn 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai nộp tạm ứng án phí số 0006705 ngày 18-12-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: UBND quận Đ khởi kiện đòi lại 257,57m² mặt bằng (theo đo vẽ thực tế), vị trí khu đất tại trích đo tờ bản đồ số 10 (nay thuộc một phần thửa số 04, tờ bản đồ số 71), tỷ lệ 1/300 theo Hợp đồng thuê mặt bằng tạm thời số 01HĐ/ĐC ngày 04-11-1998 được ký giữa Phòng Địa chính Thị xã Đ với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ, hiện đang do vợ chồng bà Vũ Thị C quản lý, sử dụng. Ủy ban nhân dân quận Đ cho Bảo hiểm y tế Thị xã Đ thuê mặt bằng, tiền thuê nộp vào ngân sách Nhà nước và không có mục đích lợi nhuận nên Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn đã xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp Hợp đồng thuê tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Vũ Đắc Ý; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Đình T, chị Nguyễn Thị Thu H1 đều vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Vũ Đắc Ý và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Đình T, chị Nguyễn Thị Thu H1.
- Về nội dung vụ án:
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về buộc ông Vũ Đắc Ý và vợ chồng bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T phải trả lại cho Ủy ban nhân dân quận Đ 257,57m² mặt bằng (theo đo vẽ thực tế), vị trí khu đất tại trích đo tờ bản đồ số 10, tỷ lệ 1/300 (nay thuộc một phần thửa đất số 04, tờ bản đồ số 71) theo Hợp đồng thuê mặt bằng tạm thời số 01HĐ/ĐC được ký giữa Phòng Địa chính Thị xã Đ với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ (nay là Bảo hiểm xã hội quận Đ):
[3.1] Ngày 18-11-1996, Ủy ban nhân dân thành phố H có Văn bản số 1372/CV-UB về việc cho thuê, cho mượn mặt bằng để tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch tại Thị xã Đ, theo đó Ủy ban nhân dân thành phố H đồng ý chủ trương cho thuê, cho mượn mặt bằng tạm thời để tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch tại phường V, thị xã Đ, giao Ủy ban nhân dân Thị xã Đ tổ chức thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. Khi thành phố có nhu cầu sử dụng, các đối tượng thuê mượn mặt bằng phải tự tháo dỡ công trình và không được đền bù. Để triển khai nội dung trên, Phòng Địa chính thị xã Đ (nay là Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Đ) do ông Lưu Kim T1 - Chức vụ: Trưởng Phòng Địa chính thị xã Đ đã ký Hợp đồng thuê mặt bằng số 01HĐ/ĐC ngày 04-11-1998 với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ. Sau đó Bảo hiểm y tế Thị xã Đ đại diện là ông Bùi Mạnh D, Giám đốc ký Hợp đồng thuê mặt bằng và liên doanh kinh tế vào ngày 26-3-2002 với ông Vũ Đắc Ý. Đến năm 2023 ông Ý chuyển nhượng tài sản trên đất là nhà nghỉ T3 cùng quyền thuê mặt bằng cho bà Vũ Thị C trực tiếp quản lý, sử dụng mặt bằng thuê cho đến nay.
[3.2] Xét tính pháp lý của Hợp đồng số 01HĐ/ĐC ngày 04-11-1998: Hợp đồng số 01HĐ/ĐC là Hợp đồng thuê tài sản quy định tại Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 1995; được giao kết trên tinh thần tự nguyện, thiện chí; mục đích và nội dung Hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội; mặc dù cho đến nay UBND quận Đ chưa xuất trình được văn bản ủy quyền của Ủy ban nhân dân Thị xã Đ cho Phòng địa chính thị xã Đ để ký Hợp đồng số 01HĐ/ĐC với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ nhưng trong suốt quá trình thực hiện Hợp đồng từ khi ký kết cho đến nay Ủy ban nhân dân quận Đ (Cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai) không có ý kiến phản đối, mặc khác đây là chủ trương của Thành phố chỉ đạo tại thời điểm đó và giao cho UBND thị xã Đ thực hiện nên Phòng địa chính Thị xã Đ thay mặt UBND quận Đ ký Hợp đồng cho thuê mặt bằng số 01HĐ/ĐC là đúng quy định của pháp luật. Hợp đồng số 01HĐ/ĐC ngày 04-11-1998 có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật Dân sự năm 1995 nên các bên phải có nghĩa vụ tôn trọng, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình được nêu trong hợp đồng. Theo hợp đồng, tại mục 3 Điều 1 quy định thời hạn cho thuê mặt bằng tạm thời là 01 năm từ ngày 04-11-1998 đến ngày 04-11-1999. Mặc dù thời hạn Hợp đồng số 01HĐ/ĐC đã hết từ ngày 05-11-1999, tuy nhiên tại thời điểm năm 1999 do chưa có nhu cầu sử dụng đất, UBND quận Đ vẫn tạo điều kiện cho Bảo hiểm y tế Thị xã Đ được quản lý, sử dụng mặt bằng thuê để kinh doanh nên được hiểu hai bên vẫn mặc nhiên thực hiện Hợp đồng. Hợp đồng số 01HĐ/ĐC chính thức hết từ thời điểm UBND quận Đ ra Thông báo số 134/TB-UBND ngày 04-3-2024 về việc chấm dứt Hợp đồng thuê mượn mặt bằng tạm thời đối với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ tại khu C, phường V, quận Đ thời gian hoàn thành trước ngày 05-4-2024. Tuy nhiên ông Ý và vợ chồng bà C không thực hiện thanh lý Hợp đồng số 01HĐ/ĐC. Sau khi hết thời hạn từ ngày 05-4-2024 (thời điểm này Bộ luật Dân sự năm 2015 đang có hiệu lực), hai bên đã không gia hạn hợp đồng nên Hợp đồng số 01HĐ/ĐC đương nhiên chấm dứt theo quy định tại khoản 1 Điều 422 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc ông Ý, bà C vẫn tiếp tục đóng thuế đến năm 2023 chỉ là nghĩa vụ của người đang sử dụng đất đối với Nhà nước chứ không phải là căn cứ hai bên gia hạn Hợp đồng. Ủy ban nhân dân quận Đ đã ra Thông báo số 469/TB-UBND ngày 22-12-2023 về việc thực hiện thanh lý, chấp dứt các hợp đồng cho thuê mặt bằng tạm thời, giấy phép sử dụng mặt bằng tại khu C, khu phường cũ, khu B thuộc phường V, quận Đ; Thông báo số 501/TB-UBND ngày 25-12-2023 về thời gian thực hiện thanh lý chấm dứt hợp đồng đối với những trường hợp cho thuê mặt bằng tạm thời để sử dụng kinh doanh, dịch vụ tại Khu C, Khu B, Khu Phường cũ thuộc phường V đối với ông Vũ Đắc Ý, bà Vũ Thị C; Thông báo số 55/TB-UBND ngày 21-02-2024 về thời gian thực hiện thanh lý chấm dứt hợp đồng đối với những trường hợp cho thuê mặt bằng tạm thời để sử dụng kinh doanh, dịch vụ tại Khu C, Khu B, Khu Phường cũ thuộc phường V (lần 2) đối với ông Vũ Đắc Ý, bà Vũ Thị C và niêm yết công khai tại quán K1 vào ngày 28-12-2023 và lần 2 ngày 22-02-2024 (thời gian giải quyết việc thanh lý chấm dứt hợp đồng: Từ ngày 27-12-2023 đến ngày 15-01-2024 và từ ngày 21-02-2024 đến ngày 01-3-2024). Ngày 04-3-2024 Ủy ban nhân dân quận Đ ra Thông báo số 134/TB-UBND về việc chấm dứt Hợp đồng thuê mượn mặt bằng tạm thời đối với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ (nay là Bảo hiểm xã hội quận Đ), ông Vũ Đắc Ý và bà Vũ Thị C tại khu C, phường V, quận Đ kể từ ngày 04-3-2024 và yêu cầu ông Ý, vợ chồng bà C có trách nhiệm tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc, công trình, di dời toàn bộ tài sản để trả lại mặt bằng cho Nhà nước quản lý và không được đền bù, thời gian hoàn thành trước ngày 05-4-2024 nhưng ông Ý và vợ chồng bà C không đồng ý. Theo Điều 5 của Hợp đồng số 01HĐ/ĐC và Điều 482 của Bộ luật Dân sự năm 2015, ông Ý và vợ chồng bà C phải có nghĩa vụ trả lại diện tích mặt bằng đã thuê cho Ủy ban nhân dân quận Đ nhưng ông Ý và vợ chồng bà C đã không thực hiện nghĩa vụ này, tiếp tục sử dụng. Tại phiên tòa bà C cũng thừa nhận ngoài Hợp đồng số 01HĐ/ĐC, bà không có bất cứ một giấy tờ nào để chứng minh quyền sử dụng diện tích 257,57m² mặt bằng (theo đo vẽ thực tế) và cũng không ký một phụ lục Hợp đồng hoặc gia hạn Hợp đồng nào với Ủy ban nhân dân quận Đ, thời gian quản lý, sử dụng mặt bằng thuê theo Hợp đồng 01HĐ/ĐC đã hết. Do đó việc tiếp tục chiếm hữu, sử dụng mặt bằng diện tích đất nêu trên của ông Ý, vợ chồng bà C là không có căn cứ pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 165 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4] Khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Chủ sử hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi từ tài sản không có căn cứ pháp luật”. Như đã phân tích tại mục [3.2] Hợp đồng số 01HĐ/ĐC đã hết thời hạn nhưng ông Ý và vợ chồng bà C vẫn không bàn giao lại mặt bằng đã thuê để trả lại cho Ủy ban nhân dân quận Đ là vi phạm thỏa thuận trong Hợp đồng số 01HĐ/ĐC. Do đó, Ủy ban nhân dân quận Đ được quyền khởi kiện yêu cầu ông Ý và vợ chồng bà C trả lại cho Ủy ban nhân dân quận Đ 257,57m² mặt bằng (theo đo vẽ thực tế), vị trí khu đất tại trích đo tờ bản đồ số 10, tỷ lệ 1/300 (nay thuộc một phần thửa đất số 04, tờ bản đồ số 71) theo Hợp đồng thuê mặt bằng tạm thời số 01HĐ/ĐC được ký giữa Phòng Địa chính Thị xã Đ với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ (nay là Bảo hiểm xã hội quận Đ) là có căn cứ được chấp nhận. Tại phiên tòa bà C cũng đồng ý hoàn trả lại 257,57m² mặt bằng (theo đo vẽ thực tế) cho UBND quận Đ.
[5] Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 23-8-2024 thể hiện: Theo Hợp đồng số 01HĐ/ĐC ngày 04-11-1998 thì diện tích mặt bằng cho thuê theo Hợp đồng là 360,0m², nhiều hơn diện tích đo vẽ thực tế. Quá trình sử dụng mặt bằng cho thuê, đã nộp tiền thuê đất đối với diện tích 215,6m². Theo Chi cục thuế khu vực Đ - Kiến Thụy cung cấp tại Công văn số 17/CCTKV-NV ngày 17-01-2025 thì lý do Chi cục thuế thu tiền thuê đất của ông Vũ Đắc Ý với diện tích 215,6m² là căn cứ vào trích đo địa chính thửa đất của ông Vũ Đắc Ý do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Đ lập năm 2011 xác định diện tích phần diện tích giáp biển ông Ý sử dụng là 215,6m². Diện tích đất đo vẽ thực tế 257,57m² là do ông Vũ Đắc Ý lấn chiếm về phía biển. Về tài sản gắn liền với đất tại Biên bản định giá tài sản ngày 20-01-2025 của Hội đồng định giá trong Tố tụng dân sự lập thì đã kiểm kê đầy đủ, chi tiết và mô tả cụ thể các tài sản gắn liền trên khu đất của vợ chồng bà C đang sử dụng, đến nay các tài sản không có sự biến động, vì vậy bà C đề nghị Tòa án căn cứ vào tại Biên bản định giá tài sản ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Hội đồng định giá, định giá tài sản là: 2.947.847.500đồng để bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất cho vợ chồng bà.
[6] Hợp đồng số 01HĐ/ĐC ngày 04-11-1998 đã hết hạn từ ngày 05-11-1999, tuy nhiên Chi cục Thuế vẫn thu tiền thuế thuê đất của ông Vũ Đắc Ý, vợ chồng bà Vũ Thị C đến năm 2023 bởi Căn cứ Luật Đất đai qua các thời kỳ tại khoản 4 Điều 79 Luật Đất đai năm 1993; khoản 3 Điều 107 Luật Đất đai năm 2003; khoản 3 Điều 170 Luật Đất đai năm 2013 có quy định về việc người đang sử dụng đất phải có nghĩa vụ thực hiện nộp tiền thuê đất vào Ngân sách Nhà nước theo quy định. Ông Ý và vợ chồng bà C vẫn đang là người sử dụng diện tích đất thuê, chưa ký thanh lý Hợp đồng để trả lại mặt bằng cho UBND quận Đ vì vậy phải thực hiện nghĩa vụ nộp tiền thuê đất cho Nhà nước cho đến khi hoàn trả lại đất thuê cho UBND quận Đ. Nên đây không phải là căn cứ chứng minh việc gia hạn Hợp đồng giữa UBND quận Đ và ông Vũ Đắc Ý, vợ chồng bà Vũ Thị C.
[7] Yêu cầu trả lại tài sản cho thuê của Ủy ban nhân dân quận Đ là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 165, khoản 1 Điều 166 và Điều 482 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Ủy ban nhân dân quận Đ yêu cầu ông Vũ Đắc Ý và vợ chồng bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T trả lại diện tích thuê mặt bằng (theo diện tích đo đạc thực tế) là 257,57m². Sự thay đổi diện tích đất là do ông Ý tự ý lấn chiếm về phía núi còn quá trình từ khi cho thuê đến nay UBND quận Đ không cho Bảo hiểm y tế Thị xã Đ hay ông Vũ Đắc Ý thuê thêm một diện tích mặt bằng nào khác. Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đảm bảo việc thi hành án, cần buộc ông Vũ Đắc Ý và vợ chồng bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T phải trả lại diện tích mặt bằng thuê theo hiện trạng đo vẽ thực tế là 257,57m² cho Ủy ban nhân dân quận Đ.
[8] Về yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Vũ Đắc Ý và vợ chồng bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T phải tự tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc, công trình xây dựng trên đất để trả lại mặt bằng cho Ủy ban nhân dân quận Đ và không được đền bù: Theo Công văn số 1372/CV-UB ngày 18-11-1996 Ủy ban nhân dân thành phố H có ý kiến: “Đồng ý về chủ trương cho thuê, cho mượn mặt bằng tạm thời để tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch tại phường V, thị xã Đ. Giao cho Ủy ban nhân dân thị xã Đ tổ chức thực hiện theo quy định hiện hành. Khi thành phố có nhu cầu sử dụng, các đối tượng thuê mượn mặt bằng phải tự tháo dỡ công trình và không được đền bù”. Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố H, Phòng địa chính Thị xã Đ theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân Thị xã Đ đã ký Hợp đồng số 01HĐ/ĐC ngày 04-11-1998 với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ, nội dung Điều 5 trong Hợp đồng nêu rõ: “Khi có quyết định thu hồi của cấp có thẩm quyền người sử dụng mặt bằng phải tự tháo dỡ vật kiến trúc... trả lại mặt bằng cho Nhà nước và không được đền bù.....”. Sau khi ký Hợp đồng với Phòng địa chính Thị xã Đ, Bảo hiểm y tế Thị xã Đ do ông Bùi Mạnh D - Giám đốc đã ký Hợp đồng thuê mặt bằng và liên doanh kinh tế với ông Vũ Đắc Ý vào ngày 26-3-2002 để cho ông Ý thuê lại mặt bằng. Đến năm 2023 ông Ý chuyển nhượng tài sản là nhà nghỉ T3 cùng quyền thuê mặt bằng cho bà Vũ Thị C, hai bên có lập thành văn bản nhưng không có cơ quan chính quyền địa phương xác nhận. Quá trình từ khi ký kết Hợp đồng cho đến nay Ủy ban nhân dân quận Đ không gia hạn Hợp đồng với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ cũng như ông Ý, bà C. Bà C tại phiên tòa cũng thừa nhận ngoài Hợp đồng số 01HĐ/ĐC ngày 04-11-1998 giữa UBND quận Đ và bà không ký thêm Hợp đồng hoặc Phụ lục Hợp đồng nào khác. Việc ông Ý, bà C vẫn đóng tiền thuê đất đến năm 2023 là đang thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với Nhà nước do ông Ý và vợ chồng bà C chưa làm thủ tục thanh lý Hợp đồng với UBND quận Đ chứ không phải là căn cứ UBND quận Đ gia hạn Hợp đồng đối với ông Ý, bà C. Đến nay thực hiện yêu cầu của Thủ tướng chính phủ theo Quyết định số 323/QĐ-TTg ngày 30-3-2023 và Thông báo số 360/TB-VP ngày 24-11-2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H về chủ trương thu hồi lại mặt bằng cho thuê nhằm mục đích chỉnh trang đô thị, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển du lịch quận Đ theo đề án điều chỉnh quy hoạch chung của thành phố Hải Phòng đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050. Ủy ban nhân dân quận Đ đã tiến hành đầy đủ thủ tục, thông báo đến ông Vũ Đắc Ý, bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T để làm thủ tục thanh lý Hợp đồng là đúng quy định của pháp luật. Ông Ý, bà C, ông T phải có trách nhiệm tự tháo dỡ các tài sản, công trình vật kiến trúc trên đất để trả lại mặt bằng cho UBND quận Đ mà không được đền bù là phù hợp với nội dung Hợp đồng đã thỏa thuận, ký kết giữa hai bên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về yêu cầu của bà Vũ Thị C về bồi thường, hỗ trợ đối với tài sản trên đất: Các công trình, vật kiến trúc trên đất gồm (nhà 3 tầng, tầng hầm, 16 phòng nghỉ...) là do ông Vũ Đắc Ý đầu tư tạo dựng và đã chuyển nhượng toàn bộ cho bà Vũ Thị C vào tháng 2 năm 2023. Các tài sản tạo dựng sau này là tài sản của vợ chồng bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T, không liên quan đến ai khác. Nguyên đơn cho rằng, theo Hợp đồng số 01HĐ/ĐC ngày 04-11-1998, ông Ý, vợ chồng bà C phải có nghĩa vụ tự tháo dỡ các tài sản, vật kiến trúc trên đất mà không được bồi thường. Xét thấy việc UBND Thị xã Đ và Bảo hiểm y tế Thị xã Đ ký kết Hợp đồng là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của Luật, không trái đạo đức xã hội và phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo Hợp đồng đã ký kết. Sau này khi ông Ý được Bảo hiểm y tế Thị xã Đ cho thuê lại mặt bằng thuê và sau cùng là chuyển nhượng lại cho bà C tài sản trên đất và quyền thuê lại thì cũng phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo Hợp đồng đã ký kết. Khi ông Ý xây nhà nghỉ T3 thành nhà kiên cố 03 tầng đã không xin Giấy phép xây dựng, sau này bà C tiếp quản cũng cơi nới, sửa chữa thành quán K1 nhưng không xin phép Cơ quan có thẩm quyền. Mặc dù Cơ quan quản lý Nhà nước cũng có một phần lỗi do buông lỏng quản lý, không kiên quyết thực hiện các biện pháp cưỡng chế hành chính buộc tháo dỡ công trình vi phạm nhưng đây là lỗi của chính quyền địa phương trong Công tác quản lý Nhà nước, không phải là căn cứ để tính bồi thường cho vợ chồng bà C. Vì vậy yêu cầu của bà Vũ Thị C về việc khi Nhà nước thu hồi phải bồi thường cho vợ chồng bà C số tiền là: 2.947.847.500đ (Hai tỷ chín trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm) đồng không có cơ sở chấp nhận. Tại phiên tòa bà C thay đổi ý kiến, đồng ý tự tháo dỡ toàn bộ các vật kiến trúc, công trình xây dựng trên đất để trả lại mặt bằng cho Ủy ban nhân dân quận Đ. Tuy nhiên bà C đề nghị UBND quận Đ hỗ trợ kinh phí tháo dỡ cho bà và cho bà được tháo dỡ cuối cùng để có thời gian bán các tài sản tại quán K1 để thu hồi vốn. Tại phiên tòa UBND quận Đ không chấp nhận ý kiến này của bà C.
[11] Về yêu cầu của bà Vũ Thị C đề nghị Nhà nước quan tâm cho thuê một diện tích mặt bằng khác để vợ chồng tiếp tục kinh doanh, tạo việc làm, thu nhập, đảm bảo duy trì cuộc sống cho gia đình: Xét thấy nội dung này thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân quận Đ trong lĩnh vực quản lý đất đai, Hội đồng xét xử không có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
[12] Xét tư cách tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
Đối với chị Nguyễn Thị Thu H1, lời khai của chị H1 phù hợp với lời khai của bà C và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện. Do mẹ chị H1 là bà Vũ Thị C đã kinh doanh 01 quán Karaoke tại Khu I, phường V, quận Đ nên nhờ chị H1 đứng tên trên Hợp đồng chuyển nhượng nhà nghỉ Thảo Dung với ông Vũ Đắc Ý, cũng như đứng tên hộ bà C trên giấy phép kinh doanh quán K1 còn thực tế bà C mới là người trực tiếp quản lý, sử dụng mặt bằng. Toàn bộ tiền trả cho ông Ý để nhận chuyển nhượng nhà nghỉ T3; tiền đầu tư, sửa chữa xây dựng quán K1 2 sau này là tài sản chung của bà Vũ Thị C và ông Hoàng Đình T, chị H1 không đóng góp tiền của, công sức gì để nhận chuyển nhượng nhà nghỉ Thảo D1 cũng như đầu tư xây dựng quán K1 nên chị H1 đề nghị Tòa án không cho chị vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Vì vậy xác định chị Nguyễn Thị Thu H1 không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.
[13] Về chi phí tố tụng: Ủy ban nhân dân quận Đ tự chi trả và không yêu cầu Tòa án giải quyết về những chi phí tố tụng này nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[14] Về án phí dân sự sơ thẩm:
[14.1] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[14.2] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị đơn là ông Vũ Đắc Ý phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đồng. Tuy nhiên do ông Ý là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Vũ Đắc Ý.
[14.3] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[15] Về quyền kháng cáo bản án: Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 130, 131, 133, 285, 286, 308, 395, 400, 408, 411, 418, 420, 476, 477, 478, 479, 480, 482, 486, 487, 488, 604, 605 Bộ luật Dân sự năm 1995;
Căn cứ vào các điều 117, khoản 2 Điều 165, khoản 1 Điều 166, 404, khoản 1 Điều 422, 472, 474, 482, 579, 580 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ủy ban nhân dân quận Đ:
- Buộc ông Vũ Đắc Ý, bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T phải trả lại cho Ủy ban nhân dân quận Đ 257,57m² mặt bằng (theo đo vẽ thực tế), vị trí khu đất tại trích đo tờ bản đồ số 10, tỷ lệ 1/300 (nay thuộc một phần thửa đất số 04, tờ bản đồ số 71) theo Hợp đồng thuê mặt bằng tạm thời số 01HĐ/ĐC được ký giữa Phòng Địa chính Thị xã Đ với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ (nay là Bảo hiểm xã hội quận Đ.
Vị trí, kích thước, mốc giới của diện tích đất này cụ thể như sau:
- Phía Bắc, giáp đường V được xác định từ mốc 1 đến mốc 2, có chiều dài là 7,90m;
- Phía Nam, giáp biển, được xác định từ mốc 3 đến mốc 4, có chiều dài là 8,82m;
- Phía Đông, giáp nhà nghỉ C1, được xác định từ mốc 2 đến mốc 3, có chiều dài là 30,6m;
- Phía Tây, giáp nhà nghỉ S, được xác định từ mốc 4 đến mốc 1, có chiều dài là 30,95m.
Tổng diện tích qua đo vẽ thực tế là 257,57m².
(Có sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo Bản án).
- Buộc ông Vũ Đắc Ý, bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T phải tự tháo dỡ toàn bộ các vật kiến trúc, công trình xây dựng trên đất để trả lại mặt bằng cho Ủy ban nhân dân quận Đ và không được đền bù.
- Buộc ông Vũ Đắc Ý, bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T phải trả lại cho Ủy ban nhân dân quận Đ 257,57m² mặt bằng (theo đo vẽ thực tế), vị trí khu đất tại trích đo tờ bản đồ số 10, tỷ lệ 1/300 (nay thuộc một phần thửa đất số 04, tờ bản đồ số 71) theo Hợp đồng thuê mặt bằng tạm thời số 01HĐ/ĐC được ký giữa Phòng Địa chính Thị xã Đ với Bảo hiểm y tế Thị xã Đ (nay là Bảo hiểm xã hội quận Đ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ủy ban nhân dân quận Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ủy ban nhân dân quận Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006705 ngày 18-12-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Bị đơn là ông Vũ Đắc Ý được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị C, ông Hoàng Đình T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Người đại diện hợp pháp của UBND quận Đ có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị C có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Đình T vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Phương |
Bản án số 26/2025/DS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
- Số bản án: 26/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng thuê tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài sản
