TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày 25-3-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Chuyên.
- Bà Lương Thị Kim Oanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Ngân Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 26/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 12/3/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Hoài S, sinh ngày 13/7/1976 tại tỉnh Thái Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở: Số nhà A, ngõ C, đường N, tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 09/12; con ông Nguyễn Văn B và bà Trần Thị Bích Đ (đều đã chết); có vợ: Tô Thị T và 03 con;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Quyết định số 1877 ngày 26/11/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 28/9/2003.
- Quyết định số 143 ngày 08/01/2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 09/11/2005.
2
- Quyết định số 245/QĐ-UBND ngày 13/4/2007 của Ủy ban nhân dân thành phố T về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 03/4/2008.
- Quyết định số 887/QĐ-UBND ngày 24/4/2010 của Ủy ban nhân dân thành phố T về việc áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm chữa bệnh-Giáo dục-Lao động xã hội, thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 24/4/2011.
- Quyết định số 3794/QĐ-CT ngày 12/8/2011 của Ủy ban nhân dân thành phố T về về việc áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm chữa bệnh-Giáo dục-Lao động xã hội, thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 16/8/2012.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 25/12/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực K, trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt
- Người chứng kiến:
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1966;
Nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1973;
Nơi cư trú: Thôn B, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
(Bà L, anh T1 đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 16/12/2024, tại cổng Công ty B1 thuộc thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện K trong quá trình tuần tra phát hiện Nguyễn Hoài S có biểu hiện nghi vẫn nên yêu cầu kiểm tra. Dưới sự chứng kiến của chính quyền địa phương và người chứng kiến, S tự nguyện lấy từ túi áo khoác bên sườn phải đang mặc 01 túi nilon trong suốt, miệng túi nẹp cài nhựa viền màu đỏ bên trong chứa 02 gói bằng giấy tráng kim màu trắng, mở ra bên trong đều có chất bột màu trắng dạng cục, S khai nhận đó là H để S sử dụng cho bản thân. Kiểm tra chi tiết thân thể của S không thu gì thêm. Sau đó, tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu theo quy định pháp luật.
Bản kết luận giám định số 1837/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,3601 gam (Không phẩy ba nghìn sáu trăm linh một gam).
Heroin STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ và Nghị định 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 của Chính Phủ.
3
Về nguồn gốc số ma tuý bị quản lý, bị cáo khai mua của một người đàn ông khoảng 60 tuổi, không quen biết vào khoảng 19 giờ ngày 15/12/2024 tại khu vực ngã tư đèn giao thông gần Công ty T2 thuộc xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, S cất giấu tại nhà và sáng ngày 16/12/2025 bỏ vào túi áo khoác bên sườn phải đang mặc thì bị bắt quả tang.
Cáo trạng số 25/CT-VKSKX ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Hoài S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương giữ nguyên truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài S từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma tuý quản lý của bị cáo được hoàn trả sau giám định, niêm phong trong phong bì số 1837/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
4
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản khám xét; kết luận giám định; biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 16/12/2024, tại cổng Công ty B1 thuộc thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Hoài S đã có hành vi tàng trữ tái phép trên người 01 túi chứa 02 gói ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,3601 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
- Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C, H (H), A, MDMA hoặc XLR-11 Có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Hoài S là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, ngoài ra còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Ma túy gây ra những tác hại khôn lường cho sức khoẻ, trí tuệ người sử dụng, là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh các loại tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội.
Bị cáo biết rõ tác hại của ma tuý nhưng do nghiện ma tuý nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc để cải tạo bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã bị Ủy ban nhân dân tỉnh T đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc vào các năm 2001, 2004; đã bị Ủy ban nhân dân thành phố T áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh vào năm 2007, đưa vào Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội vào các năm 2010, 2011.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
5
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự do trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo.
[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cải tạo cách ly đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng của vụ án: Số ma túy quản lý của bị cáo hoàn lại sau giám định, thuộc loại Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.
[8] Về người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo khai không quen biết, không xác định được họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài S 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,3136 gam (không phẩy ba nghìn một trăm ba mươi sáu gam) ma túy, loại H (H) hoàn trả sau giám định, niêm phong trong phong bì số 1837/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.
(Vật chứng của vụ án đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản kê biên đề ngày 25/02/2025).
- Bị cáo Nguyễn Hoài S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Hoài S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/3/2025).
Nơi nhận:
| TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoài Sơn tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
