TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày 21 - 3 - 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phùng Đình Bàn.
2. Bà Vũ Thị Kim Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hà Như Quỳnh - Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Bà Đỗ Hường Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 198/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Lưu Tuấn A, sinh ngày 17/02/1993; nơi cư trú: Khu A, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Lưu Viết T và bà Hà Thị O; vợ, con: Chưa có;
Tiền án: 02, cụ thể:
- Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 59/2014/HSST ngày 12/11/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt Lưu Tuấn A 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, án phí hình sự 200.000đ. Ngày 14/10/2019 chấp hành xong hình phạt tù.
- Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 273/2021/HSST ngày 15/11/2021, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt Lưu Tuấn A 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ. Ngày 06/01/2023 chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không.
- Nhân thân:
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn trật tự số 31/QĐ-XPHC ngày 05/3/2013, Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính đối với Lưu Tuấn A về hành vi “Tàng trữ, cất giấu trong phương tiện giao thông các loại dao, công cụ nhằm mục đích gây thương tích cho người khác”, hình thức phạt tiền, mức phạt 2.000.000đ. Ngày 12/3/2013, Tuấn A đã nộp phạt xong.
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ số 31 ngày 05/3/2013, Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính đối với Lưu Tuấn A về hành vi không đội mũ bảo hiểm, hình thức phạt tiền, mức phạt 150.000đ. Ngày 12/3/2013, Tuấn A đã nộp phạt xong.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/5/2024 đến nay (Có mặt).
2. Nguyễn Văn H, sinh ngày 15/6/1989; nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn G và bà Hà Thị K; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 59/2010/HSST ngày 14/12/2010, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Văn H 13 năm tù về tội Lưu hành tiền giả, án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ. Ngày 08/7/2020, H chấp hành xong hình phạt tù, án phí hình sự đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/4/2024 đến ngày 17/4/2025 chuyển tạm giam đến nay (Có mặt).
3. Trần Văn N, sinh ngày 10/11/1986; nơi cư trú: Khu V, huyện M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Trần Văn N1 và bà Trần Thị L; có vợ là Nguyễn Thị D và có 01 con;
Tiền án: 04, cụ thể:
- Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 30/2010/HSST ngày 26/10/2010, Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trần Văn N 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Án phí hình sự 200.000đ.
- Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 26/2012/HSST ngày 27/8/2012, Tòa án nhân huyện Y, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trần Văn N 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của Bản án Hình sự sơ thẩm số 30/2010/HSST ngày 26/10/2010 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, buộc Trần Văn N chấp hành hình phạt chung là 42 tháng tù, án phí hình sự 200.000đ.
- Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 38/2012/HSST ngày 21/11/2012, Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trần Văn N 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt còn lại 35 tháng 01 ngày của Bản án Hình sự sơ thẩm số 26/2012/HSST ngày 27/8/2012 của Tòa án nhân huyện Y, buộc Trần Văn N chấp hành hình phạt chung 59 tháng 01 ngày, án phí hình sự 200.000đ.
- Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 43/2014/HSST ngày 09/9/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt Trần Văn N 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt còn lại 04 năm 02 ngày của Bản án Hình sự sơ thẩm số 38/2012/HSST ngày 21/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, buộc Trần Văn N chấp hành hình phạt chung là 12 năm 02 ngày tù, án phí hình sự 200.000đ. Ngày 09/6/2023, N chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không.
- Nhân thân:
- Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 20/6/2024, Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trần Văn N 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2024, án phí hình sự 200.000đ.
Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù của Bản án Hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập theo Quyết định thi hành án phạt tù số 41/2024/QĐ-CA ngày 25/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập. Hiện bị cáo đang đang bị giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V theo Quyết định điều chuyển người bị tạm giam số 173/QĐ-CQQLTGTG-PC10 ngày 21/8/2024 của Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an tỉnh P (Có mặt).
- Bị hại: Công ty TNHH C; địa chỉ: Khu công nghiệp K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Park Jae H1 - Chức vụ: Giám đốc điều hành.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1979 - chức vụ: Trưởng phòng hành chính Công ty TNHH C (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH D3; địa chỉ: Số B N, phường B, quận L, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Đức M- Chức vụ: Giám đốc (có mặt).
- Tổng Công ty cổ phần B; địa chỉ: Tầng E, Tòa nhà M, số B C, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Uông Đông H2- Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H2: Ông Mai Văn T1 - Chuyên viên phòng pháp chế và điều tra chống trục lợi bảo hiểm Tổng công ty cổ phần B (có mặt).
- Chị Phạm Thị N2, sinh năm 1981; nơi đăng ký HKTT: Xóm A (xóm C cũ), xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện nay: Khu V, đường 40m, phường P, quận T, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
- Anh Trịnh Bá H3, sinh năm 1981; nơi ĐKHKTT: Xóm B (xóm T), xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện nay: Số nhà C ngõ A H, phường C, quận B, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Trung D1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Khu I, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lưu Tuấn A là đối tượng không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên sau khi chấp hành án phạt tù xong, Lưu Tuấn A nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản là dây cáp điện của công ty trong các khu công nghiệp để bán lấy tiền tiêu xài. Để chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội, Tuấn A mua một chiếc xe lôi cũ và gửi tại cửa hàng mua bán sắt vụn tại phường P, quận T, thành phố Hà Nội do chị Phạm Thị N2, sinh năm 1981, trú tại xã X, huyện X, tỉnh Nam Định là chủ. Sau đó, Tuấn A rủ Nguyễn Văn H có mối quan hệ quen biết với Tuấn A do cùng chấp hành án tại Trại giam S, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa và Trần Văn N do cùng chấp hành án tại Trại giam T3, huyện N, tỉnh Thanh Hóa cùng nhau đi trộm cắp dây cáp điện.
Khoảng 09 giờ ngày 24/3/2024, Lưu Tuấn A gọi điện thoại rủ Nguyễn Văn H đến phòng trọ của Tuấn A ở xã T, huyện T, thành phố Hà Nội chơi. H đồng ý, một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 19K...... những số còn lại không xác định được (sau đây gọi là xe máy biển kiểm soát 19K) từ phòng trọ của H ở xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đến phòng trọ của Tuấn A. Lúc này, ở phòng trọ của Tuấn A còn có chị Trần Phương T2 là bạn gái của Tuấn A ở cùng phòng trọ. Sau đó, có một nam giới tên là Nguyễn Ngọc H4, sinh năm 1987, trú tại huyện H, tỉnh Phú Thọ là bạn bè ngoài xã hội một mình đi bộ đến phòng trọ của Tuấn A chơi. Đến khoảng 13 giờ, sau khi ăn cơm trưa xong, chị T2 đi làm, H4 đi ngủ, Tuấn A rủ H đến khu công nghiệp K thuộc phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm và trộm cắp dây cáp điện, H đồng ý. Tuấn A bảo H để điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 của H tại phòng trọ của Tuấn A và đưa cho H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ, không có màn hình cảm ứng, lắp sim rác, còn Tuấn A sử dụng 01 chiếc điện thoại tương tự, lắp sim số 0335.685.981 để liên lạc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Khoảng 14 giờ cùng ngày, Tuấn A sử dụng xe máy lắp BKS 19K của H chở H đến khu công nghiệp K, thuộc phường K, thành phố V và đi lòng vòng quanh khu công nghiệp, mục đích xem có công ty nào để tài sản sơ hở thì sẽ thực hiện hành vi trộm cắp. Lúc này, Tuấn A và H phát hiện Công ty TNHH C (gọi tắt là công ty C) có địa chỉ tại góc ngã tư giao nhau giữa đường N và đường L thuộc khu công nghiệp K, phường K, thành phố V không có công nhân làm việc (do là chủ nhật). Công ty chỉ có 02 nhân viên bảo vệ của Công ty D3, có địa chỉ: Số nhà B, đường N, quận L, thành phố Hà Nội là ông Diệp Đình H5, sinh năm 1960, trú tại xã M, huyện T và anh Lý Hải H6, sinh năm 1987, trú tại phường Đ, thành phố V ngồi tại bốt gác cổng công ty, khu vực bên trong tường rào không có bảo vệ tuần tra, canh gác. Tuấn A và H bàn nhau đợi đến ban đêm sẽ đột nhập vào công ty qua hàng rào trên đường N để trộm cắp. Khoảng 15 giờ Tuấn A và H thuê một nhà nghỉ ở khu vực gần Trạm thu phí xã Q, huyện B để nghỉ chờ đến ban đêm và chuẩn bị công cụ phạm tội. Tuấn A gọi điện thoại cho anh H4, nhờ H4 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave có BKS: 36K... những số còn lại không xác định được (sau đây gọi tắt là xe máy biển kiểm soát 36K) của Tuấn A đi đến quán thu mua sắt vụn của chị N2 chở xe lôi đến thành phố V cho Tuấn A, Tuấn A không nói cho anh H4 biết mục đích lấy xe lôi để làm gì. Sau đó, Tuấn A gọi điện thoại cho anh Trịnh Bá H3, sinh năm 1981, trú tại xã X, huyện X, tỉnh Nam Định là người chở hàng thuê, Tuấn A thỏa thuận thuê anh H3 chở hàng từ thành phố V về thành phố Hà Nội, nhưng Tuấn A không nói rõ là hàng hóa gì, anh Hòa đồng Ý. Tuấn A và anh H3 thống nhất, khi nào Tuấn A gọi thì anh H3 sẽ điều khiển xe ô tô đi đến thành phố V chở hàng cho Tuấn A. Một lúc sau, anh H4 đi xe lôi đến khu công nghiệp K, H ra đón và đưa xe lôi về cất giấu tại khu công viên cây xanh gần vòng xuyến Khu công nghiệp K, sau khi đưa xe máy và xe lôi cho H, anh H4 đi xe khách về nhà tại tỉnh Phú Thọ. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Tuấn A gọi điện thoại rủ Trần Văn N đi trộm cắp dây cáp điện tại thành phố V thì N đồng ý và đi xe khách một mình từ huyện Y, tỉnh Phú Thọ đến thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày N đến nơi, Tuấn A đi đón N rồi cùng đi ra chỗ H cất giấu xe lôi để đợi đến đêm khuya.
Khoảng gần 23 giờ cùng ngày, H điều khiển xe máy BKS 19K, chở Tuấn A và N, đem theo 01 kìm cộng lực đi đến tường rào Công ty C trên đường N. Sau khi quan sát thấy ông H5 và anh H6 ngồi trong bốt bảo vệ tại cổng Công ty, Tuấn A trèo qua tường rào vào trong công ty, N ở ngoài cảnh giới còn H đi lấy xe lôi đến. Tuấn A đi qua sân công ty đến khu vực xưởng có đặt các cuộn dây cáp điện, Tuấn A lấy 01 cuộn dây cáp điện màu đen, lăn đến vị trí tường rào mà Tuấn A vừa trèo qua. Do cuộn dây cáp nặng nên N trèo qua tường rào và cùng với Tuấn A cắt nhỏ dây điện thành các đoạn ngắn rồi đưa qua khe hàng rào cho H để cất lên xe lôi. Sau khi cắt hết dây điện, N và Tuấn A để lõi gỗ của cuộn dây cáp ở sân công ty rồi tiếp tục trộm các cuộn dây cáp khác tương tự như trên. Sau khi lấy được 02 lô dây cáp đầu tiên, do xe lôi đã đầy nên H chở dây cáp đi tìm chỗ cất giấu. H chở 02 chuyến xe lôi đi đến cây xăng trên Quốc lộ B thuộc xóm P, xã Q, huyện B thì rẽ trái vào hướng khu công nghiệp K khoảng 250m rồi cất giấu dây điện ở ven đường.
Khoảng 02 giờ ngày 25/3/2024, Tuấn A gọi điện cho anh H3 đến chở hàng, anh Hòa đồng Ý và điều khiển xe ô tô tải BKS: 29H-711.53 đi từ thành phố Hà Nội đến trước cổng siêu thị G1 thuộc phường K, thành phố V để chờ Tuấn A. Sau khi trộm cắp được 04 cuộn dây cáp điện có lõi gỗ, N, Tuấn A và H đi sâu vào bên trong xưởng lấy trộm các cuộn dây cáp điện và dây điện không có lõi gỗ, ném qua tường rào. Sau đó, H chất dây cáp điện vừa trộm cắp được lên xe lôi, chở chuyến thứ ba đi cất giấu tại vị trí bãi cỏ ven đường bên phải Quốc lộ B, theo hướng đi Hà Nội (đối diện cây xăng tại xóm P, xã Q, huyện B). Sau khi quay lại, H trèo qua hàng rào vào bên trong kho Công ty với Tuấn A, N lấy các cuộn dây điện nhỏ ném qua hàng rào ra phía ngoài Công ty. Đến khoảng 03 giờ ngày 25/3/2024, do mệt nên Tuấn A, H và N không tiếp tục trộm cắp nữa. Tuấn A điều khiển xe lôi, chở N ngồi sau xe máy và H ngồi trên xe lôi đi đến khu vực cất giấu xe lôi lúc đầu là công viên cây xanh gần vòng xuyến Khu công nghiệp K rồi lấy xe máy BKS 36K cất giấu trước đó H điều khiển, chở N đi phía trước, Tuấn A điều khiển xe lôi đi phía sau. Khi đi qua cổng siêu thị G1, thấy xe ô tô của anh H3 đỗ ở ven đường, Tuấn A ra hiệu cho anh H3 đi theo. Khi đi đến vị trí bãi cỏ ven đường bên phải Quốc lộ B, anh H3 ngồi trên ghế lái xe ô tô, không xuống xe còn N, H, Tuấn A chuyển dây cáp điện vừa trộm cắp được, xe máy màu đỏ và xe lôi cất lên thùng xe ô tô tải. H lên xe ô tô ngồi cùng anh H3 để chỉ đường, Tuấn A và N điều khiển xe máy đi phía sau. Khi đi đến vị trí cất giấu thứ hai ở trên đường vào Khu công nghiệp K, phía sau cây xăng trên, N, H, Tuấn A tiếp tục chuyển dây cáp điện và xe máy còn lại cất vào trong thùng xe ô tô tải. Sau đó, N, H, Tuấn A lên cabin xe ô tô ngồi, chỉ dẫn anh H3 đi đến quán mua bán sắt vụn của chị N2 tại phường P, quận T, thành phố Hà Nội. Khoảng 06 giờ cùng ngày, anh H3 điều khiển xe ô tô tải đi đến quán mua bán sắt vụn của chị N2, Tuấn A gọi điện thoại cho chị N2 mở cửa rồi cùng N và H vận chuyển xe máy, xe lôi cùng dây cáp điện xuống, lúc này anh H3 vẫn ngồi trên cabin xe ô tô. Sau khi vận chuyển hết dây cáp điện xuống, Tuấn A vay chị N2 số tiền 2.500.000đ để trả tiền công cho anh H3. Sau khi nhận tiền dịch vụ vận chuyển, anh H3 điều khiển xe ô tô đi về. N, Tuấn A, H cùng chị N2 cân số dây điện được khoảng 800kg. Trong đó, đối với dây cáp điện màu đen lấy từ lô cáp có lõi gỗ được tính bằng phần trăm đồng trên dây cáp, giá đồng là 180.000đ/kg, dây điện không có lõi gỗ được tính giá 50.000đ – 60.000đ/kg, các cuộn nhỏ nhất giá 400.0000đ-500.000đ/cuộn. Sau khi tính, tổng số tiền bán dây cáp là 175.000.000đ. Chị N2 đưa trước số tiền mặt 52.500.000đ, Tuấn A đưa cho N và H cầm tiền và đi về phòng trọ của Tuấn A trước. Sau đó chị N2 ra ngân hàng rút số tiền 100.000.000đ đưa cho Tuấn A, còn nợ lại 20.000.000đ thỏa thuận trả sau. Tuấn A cầm tiền, gửi xe lôi tại quán của chị N2 và đi về phòng trọ. Khoảng vài ngày sau, chị N2 liên hệ chuyển khoản số tiền 20.000.000đ cho Tuấn A, Tuấn A yêu cầu chị N2 chuyển khoản vào số tài khoản của anh Nguyễn Trung D1, sinh năm 1989, trú tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ là lái xe taxi. Số tiền trộm cắp được, Tuấn A, N, H chia nhau mỗi người được 57.500.000đ, đã tiêu hết số tiền này. Sau đó, chị N2 đã bán một phần số dây cáp đã mua của các bị cáo, còn lại một số cuộn dây cáp, chị N2 để lại mục đích để sử dụng.
Ngày 25/3/2024, người đại diện theo ủy quyền của Công ty C là bà Nguyễn Thị Đ - Trưởng phòng Hành chính – Công ty TNHH C đến Công an phường K, thành phố V trình báo về việc: Đêm 24, rạng sáng ngày 25/3/2024, Công ty C bị kẻ gian trộm cắp tài sản là 15 cuộn dây điện các loại, trị giá 70.197.800đ. Đến ngày 26/3/2024, sau khi kiểm kê, Công ty C đã trình báo bổ sung, cụ thể số tài sản bị trộm cắp bao gồm:
- 98m cáp điện chủng loại 0.6/1kV CU/XLPE/PVC (CV) kích cỡ 4cx16.
- 58m cáp điện chủng loại 0.6/1kV CU/PVC (GV) kích cỡ 1cx95.
- 30m cáp điện chủng loại 0.6/1kV CU/XLPE/PVC kích cỡ 3Cx35+1Cx16.
- 200m cáp điện chủng loại VCTF 300/500V CU/PVC/PVC kích cỡ 5Cx2.5.
- 42m cáp điện chủng loại VCT 0.6/1Kv CU/PVC/PVC kích cỡ 3Cx10.
- 40m cáp điện chủng loại VCT 0.6/1Kv CU/PVC/PVC kích cỡ 5Cx6.
- 40m cáp điện chủng loại VCT 0.6/1KV CU/PVC/PVC kích cỡ 5Cx4.
- 600m cáp điện chủng loại KIV 450/750V CU/PVC kích cỡ 1Cx2.5.
- 300m cáp điện chủng loại KIV 450/750V CU/PVC kích cỡ 1Cx4.
- 400m cáp điện chủng loại KIV 450/750V CU/PVC kích cỡ 1Cx1.5.
- 147m cáp điện chủng loại 0.6/1kV CU/PVC (GV) kích cỡ 1cx35.
- 135m cáp điện chủng loại 0.6/1kV CU/XLPE/PVC (CV) kích cỡ 1cx185sqmm.
- 74m cáp điện chủng loại 0.6/1kV CU/XLPE/PVC (CV) kích cỡ 1cx300sqmm.
- 50m cáp điện chủng loại 0.6/1kV CU/XLPE/PVC (CV) kích cỡ 1cx400sqmm.
- 422m cáp điện chủng loại 0.6/1kV CU/XLPE/PVC (CV) kích cỡ 3Cx16+1Cx10.
Tổng trị giá tài sản bị trộm cắp là 280.865.800đ.
Sau khi nhận được đơn trình báo của Công ty C, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã truy tìm và làm việc với chị Phạm Thị N2 và anh Trịnh Bá H3.
Tại Cơ quan điều tra, anh H3 tự nguyện giao nộp: 01 xe ô tô BKS: 29H-711.53 cùng Giấy chứng nhận kiểm định và Giấy chứng nhận đăng ký xe để phục vụ công tác điều tra.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố V thu giữ tại quán thu mua sắt vụn của chị N2 ở phường P, quận T, thành phố Hà Nội 01 xe lôi của Tuấn A gửi và số dây cáp điện còn lại, bao gồm:
- 02 cuộn dây điện dân dụng Hàn Quốc, cỡ 2,5mm², chiều dài mỗi cuộn 100m, trọng lượng 7kg (màu vàng) nhãn hiệu KBI.
- 02 cuộn dây điện dân dụng Hàn Quốc, cỡ 1,5mm², chiều dài mỗi cuộn 200m màu đen. Tổng trọng lượng 9kg nhãn hiệu KBI.
- 01 cuộn dây điện dân dụng Hàn Quốc, cỡ 2,5mm², chiều dài 200m màu đen, trọng lượng 7kg nhãn hiệu KBI.
- 01 cuộn dây điện dân dụng Hàn Quốc (KBI), cỡ 4mm², chiều dài 300m, màu trắng, trọng lượng 15kg.
- 01 cuộn dây điện dân dụng Hàn Quốc (KBI), cỡ 2,5mm², chiều dài 200m, trọng lượng 7kg (màu đỏ).
- 01 cuộn dây điện KBI, thông số 0,6/1kvIEC 60502/1 màu đen, trọng lượng 22,5kg.
- 02 cuộn dây điện KBI, thông số 0,6/1kvIEC 60502/1 màu đen, trọng lượng 40kg.
- 01 cuộn dây điện KBI, thông số 300/500vIEC 60227 màu đen, trọng lượng 55kg.
Tổng giá trị tài sản thu hồi lại được là 23.456.500 đồng.
Ngày 23/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V có Yêu cầu số 4292 đề nghị Hội đồng đình giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V định giá đối với tài sản là số dây cáp điện của Công ty C bị trộm cắp. Tại Kết luận định giá số 01/CT-VKSND.TPVY ngày 16 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố các bị cáo Lưu Tuấn A, Nguyễn Văn H và Trần Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu luận tội đối với các bị cáo: Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo Lưu Tuấn A, Nguyễn Văn H và Trần Văn N. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lưu Tuấn A từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 09/5/2024.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 08/4/2024.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm tù. Tổng hợp hình phạt 27 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là từ 11 năm 09 tháng tù đến 12 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2024.
Về bồi thường dân sự:
Xác nhận Công ty D3 bồi thường cho Công ty C số tiền 270.000.000đ, Tổng Công ty cổ phần B thanh toán bồi thường cho Công ty D3 số tiền 243.881.923 đồng. Công ty C và Công ty D3 không có yêu cầu gì khác về bồi thường dân sự. Đồng thời, đề nghị chuyển quyền yêu cầu và nhận bồi thường cho Tổng Công ty cổ phần B.
Xác nhận bị cáo Lưu Tuấn A và bị cáo Nguyễn Văn H đã bồi thường cho Tổng Công ty cổ phần B số tiền 150.000.000 đồng. Tổng Công ty cổ phần B không yêu cầu bị cáo Lưu Tuấn A và Nguyễn Văn H phải bồi thường gì thêm.
Buộc bị cáo Trần Văn N phải bồi thường cho Tổng Công ty cổ phần B đối với kỷ phần bị cáo N chưa bồi thường trong tổng số tiền 243.881.923.
Ngoài ra, Kiểm sát viên đề nghị về hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo Lưu Tuấn A, Nguyễn Văn H và Trần Văn N thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, các bị cáo không có tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo Lưu Tuấn A, Nguyễn Văn H và Trần Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp kết quả định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đồng thời, qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa có đủ cơ sở để kết luận: Từ đêm ngày 24 đến rạng sáng ngày 25/3/2024, tại Công ty TNHH C, địa chỉ tại góc ngã tư giao nhau giữa đường N và đường L thuộc Khu công nghiệp K, phường K, thành phố V, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của nhân viên bảo vệ, Lưu Tuấn A, Trần Văn N, Nguyễn Văn H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 17 cuộn dây cáp điện các loại, sau đó đem bán cho chị Phạm Thị N2 được số tiền 175.000.000đ. Số tiền này được chia đều cho Tuấn A, H, N và các bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết. Tổng trị giá tài sản mà Lưu Tuấn A, Nguyễn Văn H và Trần Văn N cùng nhau trộm cắp theo Kết luận định giá là 316.753.000đ.
Hành vi của Lưu Tuấn A, Nguyễn Văn H, Trần Văn N đã phạm tội "Trộm cắp tài sản", được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:...
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
[4] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công ty, doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an cũng như môi trường đầu tư của các công ty, doanh nghiệp tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, phục vụ tốt việc giữ vững an ninh chính trị tại địa phương và làm gương cho người khác.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc, xem xét đến tính chất cũng như mức độ thực hiện tội phạm và hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo; thấy rằng:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lưu Tuấn A, Nguyễn Văn H và Trần Văn N luôn thành khẩn khai báo về hành vi đã thực hiện nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Tuấn A và bị cáo H đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra đối với kỷ phần của các bị cáo và được bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, bị cáo Tuấn A và bị cáo H được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lưu Tuấn A có 02 tiền án, bị cáo Trần Văn N có 04 tiền án đến nay chưa được xóa án tích, tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, bị cáo Tuấn A và bị cáo N bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ thực hiện tội phạm cũng như vai trò, vị trí của từng bị cáo trong vụ án; Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án đồng phạm, trong đó bị cáo Lưu Tuấn A là người khởi xướng, chủ mưu, chuẩn bị công cụ và cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội; các bị cáo Nguyễn Văn H và Trần Văn Nghĩa L1 đồng phạm với vai trò thực hành tích cực và trực tiếp thực hiện tội phạm. Do vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Trong đó, hình phạt áp dụng đối với bị cáo H nhẹ hơn so với bị cáo Tuấn A và bị cáo N. Bị cáo Tuấn A và bị cáo N đều có nhiều tiền án (bị cáo Tuấn A có 02 tiền án, bị cáo N có 04 tiền án), bị cáo Tuấn A giữ vai trò là người khởi xướng nhưng đã bồi thường cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt còn bị cáo N mặc dù có vai trò là người thực hành nhưng chưa bồi thường thiệt hại cho bị hại và không được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do vậy, hình phạt áp dụng đối với bị cáo Tuấn A và bị cáo N bằng nhau là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định các bị cáo là người không có nghề nghiệp, bản thân không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng và đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về một số vấn đề khác:
[5.1] Đối với anh Trịnh Bá H3: Quá trình điều tra xác định, Lưu Tuấn A nhiều lần thuê anh H3 chở cây hoa đào, cây quất từ vườn cây để đi bán vào dịp Tết Nguyên đán năm 2024. Ngày 24/3/2024, khi Tuấn A gọi điện cho anh H3 để thuê xe ô tô tải chở hàng, Tuấn A không nói cho anh H3 biết chở hàng gì, anh H3 cũng không hỏi vì đã có nhiều lần chở hàng thuê trước đó. Trong quá trình vận chuyển hàng lên thùng xe ô tô tải và vận chuyển xuống, anh H3 luôn ngồi trên cabin xe ô tô, không tham gia vận chuyển cùng N, H, Tuấn A, không biết hàng hóa Tuấn A thuê chở là tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có. Đối với số tiền 2.500.000đ Tuấn A nhờ chị N2 đưa cho anh H3 là tiền công dịch vụ vận chuyển, anh H3 không được chia lợi nhuận gì từ số tiền các bị cáo bán tài sản do trộm cắp mà có. Do vậy, hành vi chở hàng của anh H3 chỉ là quan hệ dân sự, không phải hành vi giúp sức cho Tuấn A, N và H. Do anh H3 không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của Tuấn A, N và H nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố V không đề cập xử lý là phù hợp.
[5.2]. Đối với chị Phạm Thị N2: Quá trình điều tra xác định, khi Tuấn A liên hệ bán dây cáp điện, Tuấn A nói với chị N2 đây là dây cáp điện thanh lý trong quá trình Tuấn A nhận thầu công trình xây dựng, chị N2 tin tưởng nên nhận mua số dây cáp này, chị N2 không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của Tuấn A, N và H nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố V không xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là phù hợp. Về bồi thường dân sự, chị N2 không yêu cầu Tuấn A, N, H phải bồi thường gì về dân sự nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5.3] Đối với anh Nguyễn Trung D1: Quá trình điều tra xác định, sau khi trộm cắp tài sản tại Công ty C, Tuấn A về nhà tại huyện C, tỉnh Phú Thọ. Trong một lần đang di chuyển trên xe taxi do anh D1 điều khiển, chị N2 liên hệ trả số tiền 20.000.000đ nên Tuấn A đã nhờ anh D1 cho chuyển nhờ vào số tài khoản của anh D1. Anh D2 không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của Tuấn A nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố V không đề cập xử lý là phù hợp.
[5.4] Đối với anh Nguyễn Ngọc H4: Quá trình điều tra và tại phiên tòa Tuấn A khai nhận có mối quan hệ quen biết với H4 do cùng chấp hành án tại Trại giam S, khi nhờ H4 chuyển xe lôi đến thành phố V, Tuấn A không nói cho H4 biết mục đích để làm gì. Sau khi chuyển xe lôi cho H, H4 đi xe khách về quê, không tham gia thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với Tuấn A, N, H, không được chia lợi ích gì. Tuy nhiên, đây chỉ là lời khai của Tuấn A, cơ quan điều tra chưa triệu tập, làm việc được Nguyễn Ngọc H4 do không có địa chỉ cụ thể. Do vậy, đề nghị Cơ quan CSĐT tiếp tục điều tra, xác minh có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với xe lôi thu giữ tại quán mua bán sắt vụn của Phạm Thị N2, quá trình điều tra xác định là xe lôi của Tuấn A mua, sau đó Tuấn A, H, N sử dụng để vận chuyển dây cáp điện trộm cắp được từ công ty C ra điểm cất giấu, là công cụ sử dụng vào việc phạm tội. Do vậy, cần tịch thu bán sung Ngân sách nhà nước.
Đối với 02 chiếc điện thoại di động Nokia Tuấn A1 và H sử dụng liên lạc trong quá trình trộm cắp tài sản; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ của Tuấn A1; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng của H và 01 kìm cộng lực quá trình điều tra, Tuấn A1 và H khai nhận: Sau khi biết bị Cơ quan điều tra phát hiện hành vi trộm cắp, Tuấn A1 và H đã vứt bỏ điện thoại và xe máy, kìm cộng lực nêu trên, không nhớ địa điểm vứt cụ thể. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để thu giữ và xử lý.
Đối với 11 cuộn dây cáp thu giữ của chị Phạm Thị N2, quá trình điều tra xác định là tài sản của Công ty C, ngày 19/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho công ty C. Chị Nguyễn Thị Đ, đại diện theo ủy quyền của Công ty C đã nhận lại số dây cáp điện này.
Đối với 01 xe ô tô BKS: 29H-711.53 cùng Giấy chứng nhận kiểm định và Giấy chứng nhận đăng ký xe, đứng tên sở hữu là anh Cao Xuân N3, sinh năm 1982, trú tại xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Quá trình điều tra xác định, xe ô tô trên là tài sản của anh Trịnh Bá H3, mua mới năm 2020, sau đó nhờ anh Cao Xuân N3 (anh vợ của H3) đứng tên hộ. Ngày 19/7/2024, Cơ quan Cơ quan CSĐT Công an thành phố V ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho anh Trịnh Bá H3. Anh H3 đã nhận lại xe ô tô cùng giấy tờ trên và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.
[7] Về bồi thường dân sự:
Căn cứ theo Hợp đồng dịch vụ bảo vệ số 191165/BA-CCV ngày 02/01/2019 giữa Công ty C và Công ty D3. Ngày 24/4/2024, Công ty D3 đã bồi thường cho Công ty C số tiền 270.000.000đ. Công ty C đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu gì khác về bồi thường dân sự.
Công ty D3 ký Hợp đồng bảo hiểm với Công ty B1 – Tổng công ty cổ phần B theo Hợp đồng bảo hiểm số 237/23/HĐ-TN.6.1/055-HH ngày 25/7/2023. Ngày 15/01/2025 Tổng Công ty cổ phần B (MIC) đã thanh toán bồi thường cho Công ty D3 số tiền 243.881.923 đồng. Công ty D3 đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu gì khác về bồi thường dân sự. Đồng thời, Công ty D3 chuyển quyền yêu cầu và nhận bồi thường cho Tổng Công ty cổ phần B. Tổng Công ty cổ phần B yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho Tổng Công ty cổ phần B số tiền 243.881.923 đồng, kỷ phần bồi thường của mỗi bị cáo là 81.293.000 đồng.
Về yêu cầu bồi thường, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo có hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của Công ty C nên Công ty C được xác định là bị hại trong vụ án và Công ty C có quyền yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại (316.753.000đ) cũng như có quyền yêu cầu về hình phạt đối với các bị cáo. Tuy nhiên, do giữa Công ty C, Công ty D3 và Công ty B1 – Tổng công ty cổ phần B có ký kết hợp đồng dịch vụ bảo vệ, bảo hiểm với nhau. Trong quá trình điều tra và chuẩn bị xét xử Công ty D3 đã bồi thường cho Công ty C, Tổng công ty cổ phần B đã bồi thường cho Công ty D3. Đồng thời, Công ty D3 đề nghị chuyển quyền yêu cầu bồi thường và nhận bồi thường cho Tổng công ty cổ phần B. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo, đại diện Công ty C, Công ty D3 và Tổng công ty cổ phần B đều đồng ý về việc chuyển quyền yêu cầu bồi thường và nhận bồi thường là Tổng Công ty cổ phần B. Đồng thời, ngày 18/3/2025 gia đình bị cáo Lưu Tuấn A và bị cáo Nguyễn Văn H đã tự nguyện bồi thường cho Tổng Công ty cổ phần B số tiền là 150.000.000 đồng (trong đó gia đình bị cáo Tuấn A bồi thường 70.000.000 đồng, gia đình bị cáo H bồi thường 80.000.000 đồng), đối với kỷ phần còn thiếu của bị cáo Tuấn A và bị cáo H, Tổng Công ty cổ phần B xin miễn cho hai bị cáo, không yêu cầu bị cáo Tuấn A, bị cáo H phải bồi thường gì thêm. Do vậy, cần ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo Lưu Tuấn A số tiền 70.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 80.000.000 đồng cho Tổng Công ty cổ phần B. Bị cáo Lưu Tuấn A và bị cáo Nguyễn Văn N4 không phải bồi thường gì thêm.
Đối với yêu cầu của Tổng Công ty cổ phần B yêu cầu bị cáo Trần Văn N phải bồi thường số tiền là 81.293.000 đồng do bị cáo N chưa bồi thường. Xét thấy, việc thỏa thuận số tiền bồi thường giữa các bị cáo và bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là tự nguyện, số tiền yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thấp hơn giá trị thiệt hại thực tế là có lợi cho các bị cáo, không trái quy định của pháp luật. Bị cáo N đồng ý bồi thường trả Tổng Công ty cổ phần B số tiền 81.293.000 đồng nhưng hiện chưa có tiền trả. Do vậy, cần buộc bị cáo Trần Văn N bồi thường trả Tổng Công ty cổ phần B số tiền 81.293.000 đồng là phù hợp.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo Lưu Tuấn A, Nguyễn Văn H và Trần Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo N phải chịu án phí dân sự trong án hình sự đối với số tiền phải bồi thường là 81.293.000 đồng x 5%= 4.064.650 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lưu Tuấn A, Nguyễn Văn H và Trần Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lưu Tuấn A 09 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 09/5/2024.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn N 09 năm 09 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 27 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2024/HS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 12 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/5/2024.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 08/4/2024.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587 và Điều 589 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Tịch thu bán phát mại sung Ngân sách nhà nước 01 xe cải tiến (dạng xe ba gác) bằng sắt, khung xe làm từ ống tuýp, lốp bánh cao su. (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Yên).
- Buộc bị cáo Trần Văn N phải trả cho Tổng Công ty cổ phần B số tiền 81.293.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Tổng Công ty cổ phần B có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo Trần Văn N không thanh toán trả cho Tổng Công ty cổ phần B khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian trậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lưu Tuấn A, Nguyễn Văn H và Trần Văn N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về án phí dân sự trong án hình sự: Buộc bị cáo N phải chịu án phí dân sự trong án hình sự 4.064.650 đồng.
Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết (người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng phần bản án liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình) để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lương Văn Tuấn |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Tuấn A cùng đồng phạm phạm tội "Trộm cắp tài sản"
