TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày 20 - 3 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Văn Luân.
Bà Trần Thị Thuỷ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Hưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2025/TLST -HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị D
sinh ngày 27 tháng 7 năm 1973 tại Thái Bình; nơi cư trú: tổ dân phố C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đệ H (đã chết) và bà Nguyễn Thị K; có chồng là Đỗ Văn Q (đã chết); có 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt)
* Bị hại: Bà Trần Thị V, sinh năm 1948; địa chỉ: Tổ dân phố V, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình (đã chết).
* Người đại diện theo pháp luật của bị hại:
- - Ông Thái Văn Đ, sinh năm 1947 (là chồng của bị hại); (vắng mặt)
- - Anh Thái Văn H1, sinh năm 1976 (là con đẻ của bị hại); (vắng mặt)
- - Anh Thái Văn H2, sinh năm 1977 (là con đẻ của bị hại); (vắng mặt)
Đều cư trú tại: Tổ dân phố V, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Đ, anh H1, anh H2: Anh Khúc Ngọc T, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)
* Người làm chứng:
- - Anh Nguyễn Tiến Đ1, sinh năm 1991; (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
- - Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1981; (vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Thị D có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở G cấp ngày 26/02/2006. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19 tháng 11 năm 2024, bị cáo một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu sơn đỏ đen, biển số đăng kí 17B4-554.78 đi từ xã L về nhà tại tổ dân phố C, thị trấn H. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, bị cáo đi đến đoạn đường K+250 Quốc lộ C thuộc địa phận tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Đây là đoạn đường thẳng, ngoài khu vực đông dân cư, được trải nhựa bằng phẳng, rộng 10,6 mét, được chia làm 02 chiều đường riêng biệt bởi vạch sơn nét đứt, màu vàng, chiều đường hướng thị trấn H đi cầu T rộng 5,35 mét. Hai bên đường không có hệ thống đèn điện chiếu sáng. Tiếp giáp với hai bên mép đường của hai chiều đường đang được mở rộng, thi công đấu nối mở rộng với đường vào khu công nghiệp T, phần đường đấu nối với mép đường đang thi công chưa được hoàn thiện. Trên mặt đường khu vực này có để lại một lớp bụi, đất mỏng. Bị cáo điều khiển xe mô tô trong điều kiện trời tối, không có đèn đường, có ánh đèn của các phương tiện đi ngược chiều làm tầm nhìn bị hạn chế. Bị cáo giữ nguyên tốc độ đi về phía trước (bị cáo khai đi với tốc độ khoảng 30 km/h). Lúc này, bà Trần Thị V đang đi bộ sang đường từ trái sang phải theo chiều đi của xe mô tô. Do không giảm tốc độ khi tầm nhìn bị hạn chế (bị cáo khai quan sát thấy bà V ở khoảng cách khoảng 1-2 mét) và khi có người đi bộ sang đường dẫn đến phần đầu bên phải xe mô tô do bị cáo điều khiển đã đâm vào phần chân bên trái của bà V làm bà V, bị cáo, xe mô tô bị đổ, ngã ra đường. Hậu quả: bà V bị thương tích vùng đầu được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ2, chuyển Bệnh viện đa khoa
tỉnh T. Do thương tích nặng bà V được gia đình đưa về nhà, đến 23 giờ 30 phút cùng ngày bà V chết tại nhà; bị cáo bị thương điều trị tại Bệnh viện Đ3, Bệnh viện đa khoa tỉnh H, xe mô tô bị hư hỏng.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu tại thời điểm lấy mẫu lúc 20 giờ 22 phút và Phiếu xét nghiệm nước tiểu tại thời điểm lấy mẫu 21 giờ 00 phút cùng ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Bệnh viện Đ3, xác định Nguyễn Thị D không sử dụng rượu, bia và chất ma túy khi lái xe mô tô.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1696/KLGĐTT-KTHS ngày 27/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T và bản ảnh, kết luận nguyên nhân chết của bà Trần Thị V: “Trên tử thi có các vết xây xát da, trợt da, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, mặt, vai, lưng, mông, tay và chân. Vỡ xương sọ vùng chẩm thái dương bên trái, chảy máu não. Nạn nhân Trần Thị V chết do chấn thương sọ não. Cơ chế hình thành vết thương do va đập, chà sát với vật tày cứng gây nên”
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, bị cáo tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 130 triệu đồng là tiền bồi thường toàn bộ tổn thất về tính mạng và tinh thần. Anh Khúc Văn T1 là đại diện theo uỷ quyền của gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên, cam kết từ nay về sau không có bất kì khiếu nại, khiếu kiện gì, không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác liên quan đến vụ việc tai nạn giao thông trên và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Cáo trạng số 40/CT-VKSVT ngày 04 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Nguyễn Thị D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thị D khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Kiểm sát viên trình bày luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chấp nhận sự thoả thuận bồi thường khắc phục hậu quả giữa bị cáo và gia đình bị hại số tiền 130.000.000 đồng. Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Thị D. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Thị D đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo Nguyễn Thị D nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của Nguyễn Thị D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với diễn biến hành vi, thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường vụ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm tử thi, bản ảnh tử thi, bản kết luận giám định pháp y về tử thi xác định về nguyên nhân chết của bà Trần Thị V, biên bản và bản ảnh khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, lời khai của những người làm chứng. Ngoài ra, còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/11/2024, tại K+250 Quốc lộ C thuộc địa phận tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình Nguyễn Thị D, có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vân tải Hưng Yên cấp ngày 26/02/2006, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu sơn đỏ đen, biển số đăng kí 17B4-554.78 do không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi tầm nhìn bị hạn chế và khi có người đi bộ qua đường vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; khoản 2, 6 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 dẫn đến phần đầu bên phải xe mô tô do D điều khiển đã đâm vào phần chân bên trái của bà Trần Thị V làm bà V, bị cáo D, xe mô tô bị đổ, ngã ra đường. Hậu quả: bà V chết hồi 23 giờ 30 phút cùng ngày.
Hành vi của Nguyễn Thị D đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3] Các điều luật được quy định cụ thể như sau:
Điều 12. Luật Giao thông đường bộ: Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe:
“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.
...”
Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1: Các trường hợp phải giảm tốc độ:
“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
...
2. Chuyển hướng xe chạy hoặc tầm nhìn bị hạn chế;
...
6. Khi có người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường;
...”
Điều 260 Bộ luật Hình sự: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
...”
[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho những người dân khi tham gia giao thông đường bộ. Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã được đào tạo và cấp giấy phép lái xe hạng A1, do không chấp hành nghiêm
chỉnh các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, bị cáo đã để xảy ra tai nạn nghiêm trọng, hậu quả làm bà Trần Thị V bị chết, gây mất mát, đau thương cho thân nhân bị hại.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị D, thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tích cực khắc phục hậu quả, bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại, quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng (được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba), để xảy ra tai nạn bị hại cũng có một phần lỗi là đi bộ sang đường không chú ý quan sát, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo nhất thời phạm tội do vô ý, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách phù hợp, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[7] Về bồi thường thiệt hại: Ngày 22 tháng 11 năm 2024, Nguyễn Thị D đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 130.000.000 đồng. Xét việc bồi thường trên là tự nguyện, phù hợp pháp luật, anh Khúc Ngọc T đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu, đề nghị gì khác, do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
[8] Về xử lý tài sản: Đối với 01 bản gốc Giấy phép lái xe hạng A1 số Z381446 mang tên Nguyễn Thị D, là giấy tờ hợp pháp của bị cáo, nay cần trả lại cho bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng và những vấn đề khác: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu sơn đỏ đen, biển số đăng kí 17B4-554.78, bị hư hỏng do tai nạn giao thông và mảnh nhựa vỡ; 01 Giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô biển số đăng kí 17B4-554.78 mang tên Nguyễn Thị D. Quá trình điều tra xác định giấy tờ trên là tài sản hợp pháp của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại bị cáo theo quy định của pháp luật. Bị cáo đã nhận
lại tài sản và không có ý kiến, đề nghị gì, do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[10] Bị cáo Nguyễn Thị D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Bị cáo Nguyễn Thị D, người đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt:
2.1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20 tháng 3 năm 2025). Giao bị cáo Nguyễn Thị D cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Thị D bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 130.000.000 đồng, anh T là đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có bất cứ yêu cầu bồi thường nào khác đối với các bị cáo (đã bồi thường xong).
4. Về xử lý tài sản: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Trả lại bị cáo Nguyễn Thị D 01 bản gốc Giấy phép lái xe hạng A1 số Z381446 do Sở G cấp ngày 26 tháng 02 năm 2006 mang tên Nguyễn Thị D.
5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị D phải nộp 200.000 đồng (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20 tháng 3 năm 2025). Anh Khúc Ngọc T, ông Thái Văn Đ, anh Thái Văn H1 và anh Thái Văn H2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hương |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị D điều khiển xe mô tô do không giảm tốc độ khi tầm nhìn bị hạn chế và khi có người đi bộ qua đường dẫn đến hậu quả bà Trần Thị V, hậu quả làm bà Trần Thị V chết
