Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HS-ST

Ngày 20-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Định.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Phạm Anh Tuấn.

Bà Hoàng Thị Chính.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Dương Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Võ Trịnh T, sinh ngày 16/6/1990; tên gọi khác: Không có; nơi thường trú: Thôn L, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Võ Trịnh H, sinh năm 1954 và bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1958; có vợ là Nguyễn Thị Bích N (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 19/12/2024, đến ngày 27/12/2024 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an thành phố H. Có mặt.

- Bị hại: Chị Ngô Thị P, sinh năm 1971; trú tại: Số C phố T, tổ L, phường B, quận K, Hải Phòng. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng cuối năm 2023 qua mạng xã hội Facebook, chị Ngô Thị P, có quen biết với Võ TrịnhThành. T kết bạn facebook và zalo với chị P và nói chuyện thì được biết chị P có nhu cầu muốn đi xuất khẩu lao động tại N. Lúc này T đã nảy sinh ý định lừa đảo chị P để chiếm đoạt tài sản. T nói với chị P là T đang xuất khẩu lao động tại N và có thể làm thủ tục cho chị P được đi xuất khẩu lao động thời vụ tại N. Đến khoảng tháng 06 năm 2024 T báo giá cho chị P để được đi xuất khẩu lao động tại N thì phải chi phí số tiền là 45.000.000 (bốn mươi lăm triệu) đồng và yêu cầu chị P chuyển khoản trước cho T số tiền 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng, trong đó: 5.000.000 (năm triệu) đồng là tiền công cho anh Lê Thành T1 (là bạn của T) để làm thủ tục xuất cảnh tại Đại sứ quán N1 trong thành phố Hồ Chí Minh; 12.000.000 (mười hai triệu) đồng chuyển cho T để làm thủ tục, chị P đồng ý. Theo yêu cầu của T, vào các ngày 02/6 và 03/6/2024 chị P đã sử dụng số tài khoản 3230381230 tại Ngân hàng B của mình để chuyển hai lần tổng số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng đến số tài khoản 1903794443017 chủ tài khoản LE THANH TẠI tại ngân hàng T2 và ngày 19/6/2024 chị P đã chuyển khoản số tiền 12.000.000 (mười hai triệu) đồng vào số tài khoản 060150024598 chủ tài khoản VO TRINH THANH tại ngân hàng S. Tổng số tiền chị P đã chuyển cho T là 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng. Sau khi nhận được tiền, T không làm thủ tục đi xuất khẩu lao động cho chị P như đã hứa mà sử dụng tiền để tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, chị P phát hiện T đang ở Việt Nam, không phải đang lao động tại N. Chị P nhắn tin gọi điện để hỏi giục T làm thủ tục thì T đã hủy kết bạn, chặn tin nhắn Z và F với chị P để chị P không liên lạc được với T.

Ngày 05/10/2024, Chị P đã gửi đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K về việc Võ Trịnh T có hành vi chiếm đoạt số tiền của chị P. Đến ngày 18/12/2024, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K giữ người trong trường hợp khẩn cấp và thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone số imei: 3572950616651959 bên trong chứa 01 sim mobifone số seri 8401231050111410 (đã qua sử dụng).

Về trách nhiệm dân sự: T đã tác động gia đình bồi thường cho chị P số tiền 20.000.000 đồng. Chị P không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T.

Bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Võ Trịnh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Võ Trịnh T và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Trịnh T mức án từ 12 đến 15 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; xử lý các vấn đề về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo đối với bị cáo, bị hại.

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến gì về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng với quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh đối với bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa hôm nay, thể hiện: Vào tháng 6 năm 2024, qua mạng xã hội facebook và zalo, Võ Trịnh T đã dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra các thông tin giả về việc mình có thể làm thủ tục đưa người đi xuất khẩu lao động tại N để chiếm đoạt của chị Ngô Thị P số tiền 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng và sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

[3.1] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức được pháp luật pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng

[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tội danh và khung hình phạt bị cáo bị truy tố, xét xử có mức án đến 03 năm tù, là loại tội phạm ít nghiêm trọng; từ trước bị cáo cũng chưa bao giờ phạm tội nên bị cáo được xác định lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã “thành khẩn khai báo”. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ cho bị hại. Do vậy bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Căn cứ vào các phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp; cần thiết phải bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cũng như có đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo trở thành người lương thiện và phòng ngừa chung.

[5] Hội đồng xét xử cũng xét bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không có thu nhập nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ cho chị P, chị P không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone số imei: 3572950616651959 bên trong chứa 01 sim mobifone số seri 8401231050111410 bị cáo khai nhận mua từ khoảng tháng 11/2024, sau khi đã thực hiện hành vi phạm tội. Chiếc điện thoại di động cùng thẻ sim mà bị cáo sử dụng để liên lạc, lừa đảo đối với chị P đã bị giật mất từ trước đó (do bị giật mất cả máy và thẻ sim nên khi mua điện thoại khác, bị cáo xin cấp lại thẻ sim có số điện thoại cũ đang dùng). Quá trình điều tra cũng không có tài liệu nào thể hiện bị cáo sử dụng chiếc điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy đủ cơ sở xác định chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone số imei: 3572950616651959 cùng 01 thẻ sim mobifone số seri 8401231050111410 là tài sản riêng của bị cáo, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo muốn được nhận lại để sử dụng nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án phí hình sự sơ thẩm của bị cáo.

[8] Đối với Lê Thành T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K xác định T1 không biết, không liên quan đến việc Võ Trịnh T lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị P nên không xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo Võ Trịnh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 174; Điều 38; các điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Võ Trịnh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  2. Xử phạt bị cáo Võ Trịnh T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính tứ ngày 19/12/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone số imei: 3572950616651959 bên trong chứa 01 sim mobifone số seri 8401231050111410 (đã qua sử dụng). Bị cáo sẽ được nhận lại chiếc điện thoại này khi thi hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng)
  4. (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An và Công an quận K)

  5. Về án phí: Bị cáo Võ Trịnh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Võ Trịnh Thành pcó quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP Hải Phòng;
  • - VKS ND TP. Hải Phòng;
  • - VKS ND quận Kiến An;
  • - Phòng PC10, PV06 – Công an TP Hải Phòng;
  • - Công an quận Kiến An;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS quận Kiến An;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 26/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: có tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger