Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 26/2025/HSST

Ngày 17 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Hồng Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Kiểm

Ông Nguyễn Duy Tính

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Bích Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lường Văn H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03/8/1990 tại huyện S, tỉnh Sơn La; Đăng ký hộ khẩu thường trú + Chỗ ở hiện nay: Bản P, xã B, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Lường Văn X (Đã chết); Mẹ đẻ: Cà Thị N, sinh năm 1962, hiện ở bản P, xã B, huyện S, tỉnh Sơn La; Gia đình bị cáo có 06 chị em, bị cáo là thứ năm ; Vợ: Lò Thị L, sinh năm 1988; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016; Vợ, con bị cáo hiện đều ở bản P, xã B, huyện S, tỉnh Sơn La;

- Tiền án: 01 tiền án. Bản án hình sự sơ thẩm số 116/2021/HSST ngày 24/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử Lường Văn H 39 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 15/5/2021, miễn án phí hình sự sơ thẩm (khối lượng ma túy là 4,17 gam Methamphetamine). Hiên ra trại ngày 15/11/2023.

- Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/9/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh P. (Hôm nay có mặt tại phiên tòa).

2. Họ và tên: Ngần Văn B; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/01/2002 tại huyện T, tỉnh Sơn La; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Phèn, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 0/12;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Ngần Văn C, sinh năm 1958; hiện ở xã M, huyện T, tỉnh Sơn La. Mẹ đẻ: Quàng Thị P (Đã chết). Gia đình bị cáo có 3 anh chị em, bị cáo là thứ ba; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/9/2024, do bị cáo không thường xuyên có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì chính quyền địa phương không biết và không đăng kí tạm trú, tạm vắng ở đâu nên ngày 21/9/2024, Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh P. (Hôm nay có mặt tại phiên tòa).

3. Họ và tên: Quàng Thị N1; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/01/2000 tại huyện T, tỉnh Sơn La; Đăng ký hộ khẩu thường trú + Chỗ ở hiện nay: Bản B, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Quàng Văn B1, sinh năm 1972; Mẹ đẻ: Lường Thị L1, sinh năm 1972. Bố, mẹ bị cáo hiện đều ở Bản B, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La. Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là thứ ba; Chồng, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không

Do bị cáo không thường xuyên có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì chính quyền địa phương không biết và không đăng kí tạm trú, tạm vắng ở đâu nên ngày 21/9/2024, Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh P. (Hôm nay có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Lường Văn H và bị cáo Quàng Thị N1: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1993. Là Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Ngần Văn B: Bà Bùi Thị Thanh N2, sinh năm 1983. Là Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 00 phút ngày 16/9/2024, tại khu vực trước cửa quán B2 thuộc đường N kéo dài, khu H, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Tổ công tác của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý – Công an tỉnh P phát hiện, kiểm tra một đôi nam nữ có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma tuý. Người nam thanh niên tự khai họ tên là Ngần Văn B, sinh năm 1999, trú tại: Bản P, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La; người nữ giới tự khai họ tên là Quàng Thị N1, sinh năm 2000, trú tại: xã C, huyện T, tỉnh Sơn La. Quá trình kiểm tra, Cơ quan công an thu giữ tại túi quần bên trái của B đang mặc 03 gói nilon màu xanh bên trong đều chứa chất bột cục màu trắng và khai nhận đây là ma tuý Heroine của B mục đích để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ 03 gói ma túy trên. Ngoài ra còn tạm giữ của B: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J6+, số imeil: 354402100851468 kèm 02 sim số 0348926101 và 0902029548; 01 xi lanh nhựa loại 3ml. Ngày 17, 18/9/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra ma tuý bằng que thử nước tiểu đối với B, N1 kết quả dương tính với chất ma tuý.

Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Pra Quyết định trưng cầu giám định số chất bột cục màu trắng thu giữ của Ngần Văn B. Tại Kết luận giám định số 1276/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận: “Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 03 gói nilon gửi đến giám định là ma tuý, có tổng khối lượng là 0,577 gam, loại Heroine (H),có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”.

Hoàn trả lại 0,440 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Quá trình điều tra, Ngần Văn B và Quàng Thị N1 khai nhận: B và N1 mua ma tuý của Lường Văn H, sinh năm 1990, trú tại: Bản P, xã B, huyện S, tỉnh Sơn La (Hiên hiện đang ở trọ tại khu phố E, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh). Căn cứ lời khai của B và N1, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Lường Văn H ở khu phố E, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, kết quả thu giữ của Hiên: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 plus màu đen, số imei 353818089927238 kèm sim số 0985730647; 01 căn cước công dân mang tên Lường Văn H. Đồng thời, Cơ quan điều tra triệu tập H về làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Ngần Văn B, Quàng Thị N1, Lường Văn H cùng khai nhận: Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 8/2024 đến ngày 14/9/2024, do không biết chữ Tiếng việt nên B đã nhiều lần bảo N1 nhắn tin hỏi và mua được ma tuý của H nhưng H, B, N1 chỉ nhớ được 02 lần gần nhất, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng gần 12 giờ ngày 04/9/2024, B sử dụng tài khoản zalo có tên “bien” đăng kí bằng số điện thoại 0335.507.xxx gọi đến tài khoản zalo có tên “Lỗi vội vàng” đăng kí bằng số điện thoại 0985.730.xxx của H để hỏi mua ma tuý thì H hẹn B chiều liên lạc lại. Đến chiều cùng ngày, B bảo N1 cầm điện thoại di động của B nhắn tin vào tài khoản zalo của H để hỏi mua 02 chỉ ma tuý Heroine và chia sẻ vị trí nhà nghỉ qua zalo để H mang ma tuý đến cho B (B không nhớ tên nhà nghỉ ở gần khu công nghiệp Q, xã Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang). Hiên đồng ý bán ma tuý cho B và bảo B đợi vì H đang đi lấy ma tuý. Sau đó, H gọi điện cho một người đàn ông không quen biết để hỏi mua 02 chỉ ma tuý Heroine nhưng người này trả lời chỉ có 01 chỉ ma tuý bán với giá 2.300.000 đồng và hẹn gặp nhau ở khu vực cầu chui khu công nghiệp Q thuộc thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, H mua được của người này 01 gói ma tuý Heroine được gói bằng nilon màu đỏ hàn kín với giá 2.300.000 đồng. Hiên cầm gói ma tuý mua được đi về phòng trọ của H tách lấy một phần để sử dụng dần cho bản thân (số ma tuý này H đã sử dụng hết), phần còn lại Hiên cân được 3,5 gam và gói lại như cũ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H thông báo cho B biết là có 01 chỉ ma tuý Heroine, H bán với giá 3.500.000 đồng, B đồng ý. Sau đó, H đến chỗ hẹn gặp B, H đưa B 01 gói ma tuý có đặc điểm như trên, B đưa H 3.500.000 đồng. Số tiền này, H đã chi tiêu cá nhân hết. Số ma tuý này, B và N1 đã sử dụng hết cho bản thân.

Lần 2: Khoảng 11 giờ ngày 12/9/2024, B liên hệ qua zalo để hỏi mua của H 01 chỉ ma tuý Heroine, H đồng ý và bảo 01 chỉ ma tuý có giá là 3.500.000 đồng. B đồng ý mua và bảo H mang ma tuý lên khu công nghiệp Q ở thị xã V, tỉnh Bắc Giang cho B. Sau đó, H gọi điện cho người đàn ông không quen biết ở khu vực cầu chui khu công nghiệp Q (B đã mua ma tuý ngày 04/9/2024) để hỏi mua ma tuý nhưng không liên lạc được nên H một mình lên khu công nghiệp Q thì gặp người đàn ông trên. Hiên hỏi và mua được của người này 05 phân ma tuý Heroine có đặc điểm là gói nilon màu đỏ được hàn kín với giá 1.300.000 đồng. H cầm gói ma tuý mua được về phòng trọ và mở ra cân được 1,75 gam, Hiên gói lại như cũ và cất giấu trong người. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, B liên lạc lại với H hỏi vị trí của H để B đến lấy ma tuý. Hiên nhắn tin lại hẹn gặp B ở cầu A (cầu Đ, tỉnh Bắc Ninh) để trao đổi mua bán ma tuý. B bảo N1 nhắn cho H để hỏi xem nếu B xuống thì có phải đợi lâu không, H nhắn lại đang đợi ở cầu A rồi. B tiếp tục bảo N1 nhắn cho H là B “đang đi rồi”. Khi đến chỗ hẹn, B đưa cho H 3.500.000 đồng, H cầm tiền và đưa lại cho B 01 gói ma tuý được gói nilon màu đỏ hàn kín. H nói với B gói ma tuý Heroine này là 05 phân, giá tiền là 1.700.000 đồng, còn 1.800.000 đồng Hiên trừ tiền B vay nợ trước đó. Số ma tuý mua được, B mang về phòng trọ tách ra một phần và cùng N1 sử dụng. Phần còn lại, B tách ra thành 03 phần và dùng mảnh túi nilon màu xanh gói thành 03 gói, dùng bật lửa hàn kín rồi giấu trong người. Các ngày sau đó, B tách mỗi ngày một ít ma tuý từ 03 gói ma tuý trên để cùng N1 sử dụng. Đến ngày 16/9/2024, B mang theo 03 gói ma tuý và cùng N1 lên thành phố V để tìm việc làm, số ma tuý B mang theo mục đích để cùng N1 sử dụng dần thì bị Tổ công tác phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.

Ngày 20/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh P chuyển toàn bộ hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố V để giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với người đàn ông bán ma tuý cho H vào các ngày 04/9/2024 và 12/9/2024, B không biết rõ họ tên, địa chỉ ở đâu, chỉ biết người đàn ông khoảng 35 tuổi, cao 1m70, da trắng, dáng người gầy. Khoảng tháng 7/2024, do có nhu cầu mua ma tuý để sử dụng nên H đi lên khu công nghiệp Q tìm mua ma tuý thì gặp người đàn ông trên nên H đã xin số điện thoại để liên lạc mua ma tuý. Hiên đã mua ma tuý của người này 02 lần vào các ngày 04/9/2024 và 12/9/2024. Số điện thoại của người đàn ông Hiên không lưu và không nhớ số. Cơ quan điều tra đã cho H xem báo cáo chi tiết lịch sử liên lạc thoại và tin nhắn số điện thoại 0985.730.xxx của H sử dụng từ ngày 01/9/2024 đến ngày 17/9/2024 nhưng H không nhớ và không nhận ra được số điện thoại của người đàn ông đã bán ma tuý cho H. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh ở khu công nghiệp Q nhưng không có người đàn ông như H đã khai. Ngoài lời khai của H, không có tài liệu nào khác để chứng minh. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định người đàn ông như H đã khai và nguồn gốc ma tuý của H.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của B và N1, Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt cảnh cáo. Đối với H, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra sử dụng chất ma tuý, kết quả: Hiên âm tính với chất ma tuý nên không có căn cứ xử phạt vi phạm hành chính đối với H về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Đối với số tiền B sử dụng để mua ma tuý của H là tiền do B và N1 cùng góp tiền để mua.

Đối với sim số điện thoại 0335.507.xxx, B đã làm rơi mất điện thoại nên mất sim. Sau đó, B mua điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J6+, số imeil: 354402100851468 kèm 02 sim số 0348926101 và 0902029548 để đăng nhập tài khoản zalo đăng kí bằng số điện thoại trên. Cơ quan điều tra không thu hồi được sim số điện thoại trên.

Quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Lường Văn H có tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” chưa được xoá án tích.

Về nguyên nhân, điều kiện, động cơ, mục đích dẫn đến hành vi phạm tội: Bị cáo H bán ma túy để lấy tiền chi tiêu cá nhân; Bị cáo B và N1 mua ma tuý để sử dụng cho bản thân.

Về vật chứng và tài sản đã thu giữ, kết quả điều tra xác định:

  • - 01 bì niêm phong số 1276/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 0,440 gam chất bột cục màu trắng là của B và N1 để cùng nhau sử dụng. Nguồn gốc số ma tuý này là của H bán cho B.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J6+, số imeil: 354402100851468 kèm 02 sim số 0348926101 và 0902029548 là của B để trao đổi mua bán ma tuý với H.
  • - 01 xi lanh nhựa loại 3ml là của B để sử dụng ma tuý.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 plus màu đen, số imei 353818089927238 kèm sim số 0985730647 là của H sử dụng để trao đổi mua bán ma tuý với B.
  • - 01 căn cước công dân mang tên Lường Văn H.

Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKS-VT ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Lường Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại Điểm b, i Khoản 2 Điều 251; các bị cáo Ngần Văn B, Quàng Thị N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo Lường Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý cho bản thân và hám lợi và cần tiền tiêu xài cá nhân nên Lường Văn H đã mua bán trái phép chất ma túy cho Ngần Văn B và Quàng Thị N1.

- Bị cáo Ngần Văn B và bị cáo Quàng Thị N1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do có nhu cầu sử dụng ma túy Heroin cho bản thân Ngần Văn B và Quàng Thị N1 đã cùng nhau mua ma túy của H về sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng dần cho bản thân.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã truy tố đối với 03 bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lường Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Ngần Văn B và Quàng Thị N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ Điểm b, i Khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lường Văn H từ 09 (C1) năm tù đến 09 năm 03 (chín năm ba tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự: đề nghị xử phạt bị cáo Ngần Văn B từ 24 (Hai mươi tư) tháng tù đến 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2024.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38: Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự: đề nghị xử phạt bị cáo Quàng Thị N1 từ 21 (Hai mươi mốt) tháng tù đến 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.

- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với 03 bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội miễn án phí cho các bị cáo do các bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo Lường Văn H và bị cáo Quàng Thị Ngọc bà Nguyễn Thị S – Trợ giúp viên pháp lý Nhà Nước tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm bào chữa: Về tội danh: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ về việc truy tố bị cáo Lường Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 BLHS; bị cáo Quàng Thị N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Về tình tiết giảm nhẹ: Đề nghị áp dụng điểm s, khoản 1 Điều 51 BLHS đối với hai bị cáo H và N1. Quá trình giải quyết vụ án từ khi bị bắt đến khi bị khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa xét xử ngày hôm nay bị cáo H và bị cáo N1 khai đầy đủ và đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, đồng thời luôn ý thức hành vi của mình là hành vi vi phạm pháp luật và các bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Điều này được thể hiện rõ trong tất cả các Biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, các bản tự kiểm điểm của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo H và bị cáo N1 là người dân tộc thiểu số, trình độ hiểu biết pháp luật kém, gia đình làm nông không có điều kiện về kinh tế nên bị cáo phải bươn chải và đi làm kiếm tiền phụ giúp gia đình sớm. Chỉ vì nông nối của tuổi trẻ mà bị cáo dính vào vòng lao lý. Đây cũng là nguyên nhân hạn chế dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo.

Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo H và N1 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của vị đại diện VKSND thành phố Việt Trì để các bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người tốt cho xã hội. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và đề nghị HDXX áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí; điểm 6 mục II Công văn số 206/TANDTC-PC ngày 27/12/2022 miễn án phí hình sự cho bị cáo Lường Văn H và bị cáo Quàng Thị Ngọc D1 các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo Ngần Văn B bà Bà Bùi Thị Thanh N2 – Trợ giúp viên pháp lý Nhà Nước tỉnh Phú Thọ vắng mặt, có bài trình bày quan điểm bào chữa: Về tội danh: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ về việc truy tố bị cáo Ngần Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Về tình tiết giảm nhẹ: Đề nghị áp dụng điểm s, khoản 1 Điều 51 BLHS: Quá trình giải quyết vụ án từ khi bị bắt đến khi bị khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa xét xử ngày hôm nay bị cáo B luôn khai đầy đủ và đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đồng thời luôn ý thức hành vi của mình là hành vi vi phạm pháp luật và bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Điều này được thể hiện rõ trong tất cả các Biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, các bản tự kiểm điểm của bị cáo có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo B là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều liện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa 0/12, bị cáo không được đi học, gia đình làm nông không có điều kiện về kinh tế nên bị cáo phải bươn chải và đi làm kiếm tiền phụ giúp gia đình sớm. Mẹ bị cáo mất sớm bị cáo bị thiệt thòi về mặt tình cảm. Chỉ vì nông nối của tuổi trẻ mà bị cáo dính vào vòng lao lý. Đây cũng là nguyên nhân hạn chế dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo B được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của vị đại diện VKSND thành phố Việt Trì để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người tốt cho xã hội. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị HDXX áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí; điểm 6 mục II Công văn số 206/TANDTC-PC ngày 27/12/2022 miễn án phí hình sự cho bị cáo Ngần Văn B do bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận và bào chữa bổ sung. Lời nói sau cùng các bị cáo trình bày trong thời gian tạm giam đã thấy rất ăn năn hối cải, nên xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm được về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho các bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

- Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lường Văn H, Ngần Văn B và bị cáo Quàng Thị N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:

Ngày 04/9/2024 và 12/9/2024, tại khu vực gần khu công nghiệp Q thuộc xã Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và cầu Đ, tỉnh Bắc Ninh, Lường Văn H đã 02 lần có hành vi bán trái phép tổng khối lượng 5,25 gam ma tuý Heroine cho Ngần Văn B (lần 1 Hiên bán 3,5 gam ma tuý Heroine; lần 2 Hiên bán 1,75 gam ma tuý Heroine), thu lời bất chính tổng số tiền 5.200.000 đồng. Do đó, H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Hồi 18 giờ 00 phút ngày 16/9/2024, tại khu vực trước cửa quán B2 thuộc đường N kéo dài, khu H, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Ngần Văn B đang tàng trữ trái phép khối lượng 0,577 gam ma túy Heroine do Ngần Văn B và Quàng Thị N1 cùng nhau góp tiền mua của Lường Văn H mục đích để cùng sử dụng thì bị tổ công tác của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý – Công an tỉnh P phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Như vậy, Lường Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với tổng khối lượng khối lượng 5,25 gam ma tuý Heroine và 02 lần bán trái phép chất ma tuý cho B và N1.

Ngần Văn B và Quàng Thị Ngọc P1 chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với tổng khối lượng 0,577 gam ma túy Heroine.

Lời khai nhận tội của các bị cáo Lường Văn H, Ngần Văn B và bị cáo Quàng Thị N1 phù hợp với thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Lường Văn H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Ngần Văn B và Quàng Thị N1 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

“1.Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b)Phạm tội 02 lần trở lên;

i) Heroine, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”

- Đánh giá tính chất vụ án đối với hành vi phạm tội của bị cáo Lường Văn H là rất nghiêm trọng, của bị cáo Ngần Văn B và Quàng Thị N1 là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn thể hiện sự coi thường bất chấp pháp luật, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an xã hội.

- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

+ Bị cáo Lường Văn H có nhân thân xấu, bị cáo có 01 tiền án: Tại bản án số 116/2021/HSST ngày 24/8/2021 của TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 39 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo ra trại ngày 15/11/2023, chưa được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, bị cáo lại tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này bị cáo vẫn phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” do đó bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Lường Văn H tự thực hiện hành vi phạm tội, không có đồng phạm. Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

+ Bị cáo Ngần Văn B và bị cáo Quàng Thị N1 có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự. Trong vụ án này có đồng phạm giản đơn, trong đó Ngần Văn B là người liên hệ, trực tiếp đi mua ma tuý, cất giấu ma tuý, tách ma tuý đưa cho N1 sử dụng; Quàng Thị N1 là người nhắn tin cho B để liên hệ với H mua ma tuý, N1 cùng góp tiền với B mua ma tuý để sử dụng. Bị cáo B và N1 được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo B và N1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Do đó khi quyết định hình phạt cần xem xét để lên mức hình phạt phù hợp cho các bị cáo, nhưng xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người tốt, có ích sau này cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, Cơ quan điều tra xác định các bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định, ngoài tài sản khi bị thu giữ và đồ dùng sinh hoạt hàng ngày các bị cáo H, B và N1 không có tài sản riêng gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

  • - 01 (một) Bì niêm phong số 1276/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả 0,440 gam chất bột cục màu trắng của Ngần Văn B cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 xi lanh nhựa loại 3ml là của Ngần Văn B để sử dụng ma tuý không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 02 sim số 0348926101 và 0902029548 của Ngần Văn B và 01 sim số 0985730647 của Lường Văn H không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J6+, số imeil: 354402100851468 là của Ngần Văn B dùng vào việc phạm tội vì vậy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 plus màu đen, số imei 353818089927238 là của Lường Văn H sử dụng để trao đổi mua bán ma tuý với B vì vậy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 căn cước công dân mang tên Lường Văn H cần trả lại cho cáo.
  • - Số tiền 5.200.000đ (Năm triệu hai trăm nghìn đồng) là tiền Lường Văn H mua bán ma túy với Ngần Văn B nên cần truy thu vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với người đàn ông bán ma túy cho H vào ngày 04/9/2024 và 12/9/2024, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh. Xét thấy là phù hợp.
  • - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của B và N1, Công an thành phố V xử phạt vi phạm hành chính. Xét thấy là phù hợp.
  • - Đối với sim số điện thoại 0335.507.xxx, Ngần Văn B đã làm mất nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Xét thấy là phù hợp.

[6] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên các bị cáo được miễn án phí.

[7] Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa, là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Lường Văn H).

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự (đối với bị cáo Ngần Văn B và Quàng Thị N1);

- Điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Điểm a khoản 1 Điều 23, Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí;

  1. Tuyên bố: bị cáo Lường Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Ngần Văn B và Quàng Thị N1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt chính:
    • - Xử phạt bị cáo Lường Văn H 09 (C1) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.
    • - Xử phạt bị cáo Ngần Văn B 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2024.
    • - Xử phạt bị cáo Quàng Thị Ngọc 2 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.
  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  4. Về xử lý vật chứng:
    • Tịch thu xung vào ngân sách Nhà nước:
    • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J6+, số imeil: 354402100851468 là của Ngần Văn B.
    • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 plus màu đen, số imei 353818089927238 là của Lường Văn H.
    • (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/02/2025, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).
    • + Truy thu số tiền 5.200.000đ (Năm triệu hai trăm nghìn đồng) của Lường Văn H.
    • Tịch thu tiêu hủy:
    • + 0,440 gam chất bột cục màu trắng được đựng trong 01 (một) Bì niêm phong số 1276/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả của Ngần Văn B.
    • + 02 sim số 0348926101 và 0902029548 của Ngần Văn B và 01 sim số 0985730647 của Lường Văn H.
    • + 01 xi lanh nhựa loại 3ml.
    • (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/02/2025, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).
    • Trả lại cho bị cáo Lường Văn H: 01 căn cước công dân mang tên Lường Văn H.
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Miễn án phí hình sự cho các bị cáo Lường Văn H, Ngần Văn B và Quàng Thị N1.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND Tp. Việt Trì;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Phú Thọ;
  • - THA HS, DS TP. Việt Trì;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Bó Sinh, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La;
  • - UBND xã Mường Bám, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La;
  • - UBND xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HSST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 26/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lường Văn H và đồng phạm phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger