|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HSST.
Ngày: 17 - 3 - 2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kỳ Việt.
- - Các Hội thẩm nhân nhân: Ông Hoàng Văn Cường, bà Lò Thị Giang.
- - Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Dũng– Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Chí – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2025/HSST ngày 27 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST – HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1.Hoàng Đức H; tên gọi khác: Không; sinh năm 2002 tại: Huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; số định danh cá nhân: 025202005878; nơi cư trú: Khu H, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Trọng T, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1981; bị cáo có vợ là Lê Thị N1, sinh năm 2002 và có 01 con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 09/10/2019 Hoàng Đức H bị Công an huyện Đ, tỉnh Phú Thọ xử phạt hành chính (Phạt tiền 1.250.000 đồng) về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”, theo điểm e khoản 3 Điều 5 Nghị định 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện Y cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
2.Trần Đức D; tên gọi khác: Không; sinh năm 2003 tại: huyện Y, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 014203014004; nơi cư trú: Bản C, xã Y, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D1, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1974; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 24/3/2020 Trần Đức D bị Công an huyện Y, tỉnh Sơn La xử phạt hành chính (Phạt tiền 300.000 đồng) về hành vi “Đánh nhau”, theo điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2024 tại nhà tạm giữ Công an huyện Y
2
cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Đức D và Hoàng Đức H quen biết nhau từ trước. Khoảng 21 giờ ngày 01/10/2024 D gặp H tại khu vực cây xăng “Đậu Thắm” ở xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. H rủ D đi đến khu vực biên giới giáp nước CHDCND Lào tìm mua hồng phiến (Methamphetamine) mang về cùng nhau sử dụng, D đồng ý. Do cả hai không có tiền nên H và D bàn nhau mang chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X của H đi cầm cố lấy tiền mua ma túy và D sẽ trả lại tiền cho H sau. D giao xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát 26B2 – 488.58 cho H để mang điện thoại đi cầm cố tại hiệu cầm đồ của anh Lê Hoàng A tại tiểu khu A, xã C, huyện M được số tiền 1.900.000 đồng. Sau đó D điều khiển xe mô tô chở H ngồi sau đi theo hướng QL6C đi xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La. Trên đường đi H và D đã chi tiêu hết số tiền 200.000 đồng, khi cả hai đến khu vực bản Lao Khô 1, xã P thì D và H gặp 01 người đàn ông dân tộc Mông không quen biết. H và D làm quen sau đó hỏi và mua được của người đó 178 viên hồng phiến được đựng trong túi nilon màu xanh, bên ngoài bọc 02 lớp nilon màu hồng và lớp ngoài cùng được quấn băng dính màu đen với giá 1.700.000 đồng. D đưa gói ma túy cho H cầm trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe mô tô trở về. Đến khoảng 00 giờ 50 phút ngày 02/10/2024 khi D và H đi đến khu vực bản K, xã P, huyện Y thì bị tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi cất dấu gói ma túy bên trong chứa 178 viên hồng phiến cùng chiếc xe mô tô BKS 26B2 – 488.58 như đã nêu.
Ngày 02/10/2024, cơ quan CSĐT Công an huyện Y, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu cùng với Phòng K Công an tỉnh S, đã tiến hành cân tịnh số vật chứng thu giữ của Hoàng Đức H và Trần Đức D cho kết quả như sau: 178 viên hồng phiến có tổng khối lượng 16,99 gam. Lấy 05 viên có tổng khối lượng 0,46 gam, ký hiệu A làm mẫu gửi giám định. Số còn lại 173 viên có tổng khối lượng 16,53 gam ký hiệu B lưu kho vật chứng.
Tại bản Kết luận giám định số: 19/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu A là ma túy, loại Methamphetamine,khối lượng của mẫu gửi giám định là0,46 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 16,99 gamloại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”
Quá trình điều trabị can Hoàng Đức H và Trần Đức D đã khai nhận hành vi mua, cất dấu trái phép 16,99 gamma túy, loại Methamphetamine bị phát hiện bắt giữ như đã nêu.
Ngày 03/10/2024, cơ quan CSĐT Công an huyện Y tiếp nhận 01 chiếc điện thoại di động,nhãn hiệu Iphone X do anh Lê Hoàng A (Sinh năm 1995, trú tại tiểu khu B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La) giao nộp. Theo anh Lê Hoàng A chiếc
3
điện thoại nêu trên do Hoàng Đức H cầm cố ngày 01/10/2024 lấy số tiền 1.900.000 đồng.
Cáo trạng số: 15/CT - VKSYC ngày 26/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, đề nghị truy tố bị can Hoàng Đức H và Trần Đức D về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, giữ quan điểm truy tố bị cáo Hoàng Đức H và Trần Đức D về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 58 Bộ luật hình sự;
- - Tuyên bố các bị cáo Hoàng Đức H và Trần Đức D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- +Xử phạt bị cáo Hoàng Đức H từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù.
- +Xử phạt bị cáo Trần Đức D từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, đối với các bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- - Tuyên tịch thu tiêu hủy 16,53 gam Methamphetamine.
- - Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone X các bị cáo đãsử dụng làm công cụ phạm tội.
- Chấp nhận việc xử lý vật chứng của cơ quan CSĐT đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, biển kiểm soát 26B2 – 488.58 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn N2.
- Trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc gia đình bị cáo Hoàng Đức H đã tự nguyện trả lại số tiền cầm cố điện thoại 1.900.000 đồng cho anh Lê Hoàng A.
- Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;Buộc các bị cáo Hoàng Đức H và Trần Đức D2 án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo là 200.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Đức H có ý kiến: Thừa nhận ngày 01/10/2024 đã rủ rê bị cáo Trần Đức D đi mua ma túy để cùng nhau sử dụng, bị bắt quả tang khi đang cầm trên tay 16,99 gamMethamphetamine. Nay bị báo đã nhận thức được lỗi lầm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thành khẩn khai nhận tội mà giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Đức D có ý kiến: Thừa nhận ngày 02/10/2024 bị bắt quả tang về hành vi cùng với bị cáo Hoàng Đức H tàng trữ 16,99 gamma túy, loại Methamphetaminevới mục đích cùng nhau sử dụng. Nay bị báo đã nhận thức được lỗi lầm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo theo Cáo trạng truy tố: Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Đức H và Trần Đức D khai nhận khoảng 21 giờ ngày 01/10/2024 tại khu vực cây xăng “Đậu Thắm” ở xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Bị cáo H rủ bị cáo D tìm mua hồng phiến để sử dụng. Sau khi có được số tiền 1.900.000 đồng cầm cố điện thoại di động của bị cáo H các bị cáo đã mua được 178 viên hồng phiếncủa một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại khu vực bản Lao Khô 1, xã P, huyện Y, tỉnh Sơn La. Trên đường về bị bắt quả tang về hành vi cất dấu trái phép số ma túy nói trên vào hồi 00 giờ 50 phút, tại khu vực bản K, xã P, huyện Y. Các bị cáo nhất trí với khối lượng, kết quả giám định đối với 178 viên hồng phiến bị bắt giữ có tổng khối lượng 16,99 gam là ma túy, loại Methamphetamine như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với vật chứng thu giữ; kết luận giám định về ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủ căn cứ kết luận các bị cáo Hoàng Đức H và Trần Đức D đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại Điều 249 Bộ luật hình sự quy định tội Tàng trữ trái phép chất ma túy:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...”
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a)...
g). Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
5
nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.".
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm chọ xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm sử dụng cho bản thân trước là xâm hại đến chính sức khỏe, kinh tế của các bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho tội phạm khác như mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý gia tăng và còn là nguyên nhân làm phát sinh, lây lan tệ nạn sử dụng trái phép chất ma túy đối với thanh, thiếu niên hiện nay. Tội phạm các bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian đủ mức trừng trị, răn đe, giáo dục và cải tạo các bị cáo thành công dân có ý thức chấp hành pháp luật.
[4] Trong vụ án các bị cáo đồng phạm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong đó bị cáo H giữ vai trò khởi xướng, rủ rê bị cáo Trần Đức D sử dụng điện thoại của bị cáo H mang cầm cố lấy tiền mua ma túy. Bị cáo D sử dụng xe mô tô trước đó mượn của chú họ làm phương tiện đi mua ma túy.Xét quá trình thực hiện hành vi phạm tội bị cáo H giữ vai trò chủ mưu, bị cáo D giữ vai trò hưởng ứng tích cực. Do đó khi lượng hình phạt Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, vai trò của mỗi đồng phạm như đã phân tích làm căn cứ quyết định hình phạt, theo quy định tại Điều 50, 58 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng bị áp dụng.
[6] Tình tiết giảm nhẹ: Xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo (H, D) thành khẩn khai nhận tội. Nên được xem xét áp dụng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo D có bác trai Nguyễn Văn M là liệt sĩ, bị cáo H có ông ngoại Nguyễn Văn Đ được Chủ tịch hội đồng nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng 3. Nên được xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ thứ hai, theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Tình tiết nhân thân: Ngày 09/10/2019,bị cáo Hoàng Đức H bị Công an huyện Đ, tỉnh Phú Thọ xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”; ngày 24/3/2020,bị cáo Trần Đức D bị Công an huyện Y, tỉnh Sơn La xử phạt hành chính về hành vi “Đánh nhau”. Xét mặc dù tính đến thời điểm phạm tội trong vụ án này đã được coi là chưa bị xử phạt hành chính, tuy nhiên cũng thể hiện các bị cáo có nhân thân xấu, để lượng mức hình phạt, theo quy định tại Điều 50 Bộ luật Hình sự.
[8] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Căn cứ biên bản xác minh xác định các bị cáo không có tài sản để thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng.
[9] Đối với Lê Hoàng A là người nhận cầm cố chiếc điện thoại của bị cáo Hoàng Đức H. Quá trình điều tra đã tự nguyện giao nộp tài sản nhận cầm cố cho cơ quan điều tra và đã được gia đình bị cáo H trả lại số tiền 1.900.000 đồng. Anh
6
Lê Hoàng A không yêu cầu gì thêm, do vậy Tòa án không đưa anh Lê Hoàng A vào tham gia tố tụng tại phiên tòa là có căn cứ.
[10] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 16,53 gam Methamphetamine (Số còn lại sau khi trích rút gửi giám định) là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, vật cấm lưu hành, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên tịch thu tiêu huỷ.
- - Đối với chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone X các bị cáo cầm cố lấy tiền đi mua ma túy được xác định là công cụ dùng vào việc phạm tội. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- - Đối với việc xử lý vật chứng của cơ quan Điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 26B2- 488.58 cho anh Nguyễn Văn N2, trú tại bản K, xã Y, huyện Y, với lý do anh N2 không biết việc bị cáo D sau khi mượn xe đã tự ý sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy. Xét là có căn cứ chấp nhận.
[11] Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ theo các bị cáo khai nhận do mua của một người đàn ông không quen biết, không có người chứng kiến. Do vậy cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Sơn La không có cơ sở để điều tra làm rõ. Các bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma túy bị bắt giữ.
[12] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự;điểm a khoản 1 Điều 23Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[13] Về quyền kháng cáo: Các bị cáođược quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249;điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự;
- - Tuyên bố các bị cáo Hoàng Đức H và Trần Đức D phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- + Xử phạt bị cáo Hoàng Đức H 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 02/10/2024(Ngày bắt giữ bị cáo).
- + Xử phạt bị cáo Trần Đức D 07 (B) năm tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 02/10/2024(Ngày bắt giữ bị cáo).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với các bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản
7
1 Điều 47Bộ luật Hình sự;
- - Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong ban đầu + 01 băng dính màu đen + 01 mảnh nilon màu hồng + 01 túi nilon màu xanh; 01 phong bì niêm phong ban đầu đựng vật chứng ký hiệu B = 16,53 gam Methamphetamine.
- - Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X, màu sơn đen, số IM: 357234093595944, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/02/2025, giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự;điểm a khoản 1 Điều 23Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Hoàng Đức H và Trần Đức D nộp án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Báo cho các bị cáo biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (17/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kỳ Việt |
Bản án số 26/2025/HSST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 26/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Đức H và đồng bọn phạm tội TTTPCMT
