|
TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày: 14 - 3 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Minh và bà Đàm Thị Thơ
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Long - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2025/TLST-HS ngày 26/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Lê Thị S, sinh năm: 1971; Tại: Thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKNKTT: Phố L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Khắc T và bà Lê Thị D (đều đã chết); Có chồng là Hà Công G và có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2024 đến ngày 05/12/2024 thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
2. Hà Công G, sinh năm: 1971; Tại: Thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKNKTT: Phố L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Công U và bà Hà Thị L (đều đã chết); Có vợ là Lê Thị S và có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/11/2024 đến ngày 12/11/2024 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn ‘Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Lê Văn V, sinh năm: 1968; Địa chỉ: Thôn D, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
* Người làm chứng:
1/ Anh Lê Văn Q, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Thôn D, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
2/ Anh Trần H, sinh năm: 1957; Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các lài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền để đầu tư kinh doanh và biết việc vợ chồng Lê Thị S và Hà Công G ở số nhà C, phố L, thị trấn T, huyện T cho vay tiền nên anh Lê Văn V (sinh năm 1968; ở thôn D, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) đến nhà riêng tìm gặp và được vợ chồng G - S đồng ý cho vay với thỏa thuận về mức lãi suất là 4.000đồng/01 triệu đồng/01 ngày. Anh V đưa cho vợ chồng S giữ 01 giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và 01 giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp của Công ty do anh V làm giám đốc để vay tiền. Trong các ngày 15 tháng 10 năm 2021, 05 tháng 12 năm 2021 và 14 tháng 12 năm 2021 anh V đã vay của vợ, chồng G – Sáu tổng số tiền 275.000.000đồng. Hình thức trả lãi: đưa tiền mặt hoặc chuyển tiền vào số tài khoản ngân hàng A của G là: 3516205399545. Lê Thị S là người trực tiếp cho anh V vay tiền, viết giấy nhận nợ và cùng với chồng thu tiền lãi, nợ gốc.
Căn cứ tài liệu, dữ liệu điện tử thu giữ, lịch sử giao dịch tài khoản ngân hàng và lời khai của những người liên quan thì lãi suất và tiền thu lợi từ khoản vay cụ thể như sau:
- Lần 1: Ngày 15/10/2021, anh V vay số tiền 50.000.000đồng. Từ ngày 15/10/2021 đến ngày 21/4/2023 (553 ngày), anh V đã thanh toán cho vợ chồng G – Sáu tổng số tiền lãi của khoản vay này là 82.950.000đồng.
Phần trăm lãi suất 110.925.000đồng x 365ngày x 100% 75.000.000đồng x 493 = 109,5 %/năm
Số tiền lãi tối đa được phép thu theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho khoản vay này là:
50.000.000đồng x 20% x 553 ngày 365 ngày = 15.150.685đồng
Số tiền thu lợi bất chính: 82.950.000₫ - 15.150.685đ = 67.799.315đồng.
- Lần 2: Ngày 05/12/2021, vay số tiền là 150.000.000đồng. Từ ngày 05/12/2021 đến ngày 21/4/2023 (503 ngày), anh V đã thanh toán tổng số tiền lãi khoản vay này là 226.350.000 đồng.
Phần trăm lãi suất 226.350.000 đồng x 365 ngày x 100% 150.000.000 đồng x 503 = 109,5%/năm
Số tiền lãi tối đa được phép thu theo quy định cho khoản vay này là:
150.000.000 đồng x 20% x 503 ngày 365 ngày = 41.342.466đồng
Số tiền thu lợi bất chính: 226.350.000₫ - 41.342.466đ = 185.007.534đồng.
- Lần 3: Ngày 14/12/2021, vay số tiền 75.000.000 đồng. Từ ngày 14/12/2021 đến ngày 21/4/2023 (493 ngày), anh V đã thanh toán tổng số tiền lãi của khoản vay này là 110.925.000 đồng.
Số tiền lãi tối đa được phép thu theo quy định
75.000.000 đồng x 20% x 493 ngày 365 ngày = 20.260.274 đồng
Số tiền thu lợi bất chính: 110.925.000₫ – 20.260.274đ = 90.664.726đồng.
Tổng số tiền thu lợi bất chính của cả 03 khoản vay là: 343.741.575đồng.
Căn cứ theo số tiền lãi thực tế đã thu của các khoản vay trên thì lãi suất mà anh V đã trả cho vợ chồng S xấp xỉ 3.042đồng/1 triệu đồng/ngày (thấp hơn mức lãi suất thỏa thuận ban đầu là 4.000đồng/01 triệu đồng/01 ngày).
Ngoài 03 khoản vay nêu trên thì từ tháng 05 năm 2022 đến ngày 21 tháng 4 năm 2023, anh V đã nhiều lần vay của vợ chồng G - Sáu với tổng số tiền 725.000.000 đồng. Trong đó: 225.000.000đồng với lãi suất thỏa thuận là 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày và 500.000.000đồng với lãi suất là 2.000đồng/01 triệu đồng/01 ngày. Tuy nhiên, tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập không đủ để xác định thời gian cụ thể của từng lần vay, số tiền vay của từng lần và số tiền lãi đã thanh toán là bao nhiêu. Theo lời khai của anh V và bị cáo S thì trong khoảng thời gian từ tháng 05 năm 2022 đến ngày 21 tháng 4 năm 2023 anh V đã thanh toán đầy đủ tiền lãi của các khoản vay cho S, G bằng hình thức tiền mặt và chuyển lãi vào tài khoản ngân hàng của G. Khi trả lãi bằng tiền mặt, ông V tự đến nhà hoặc nhờ con trai là Lê Văn Q1 (sinh năm 1992 ở thôn D, xã X, huyện T) và anh rể là Trần H (sinh năm 1957 ở thôn C, xã T, huyện T) đến trả tiền trực tiếp cho vợ chồng S - G thay ông V.
Ngày 21 tháng 4 năm 2023, anh Lê Văn V trả nợ tiền vay gốc cho vợ chồng S, G số tiền 350.000.000đồng bao gồm cả số tiền 275.000.000đồng của cả 03 khoản vay ban đầu (trong đó: 250.000.000đồng là chuyển khoản và 100.000.000đồng trả bằng tiền mặt).
Số tiền 650.000.000đồng còn nợ lại, S tính lãi suất bằng 2.000đồng/01 triệu đồng/01 ngày. Tuy nhiên, từ ngày 21 tháng 4 năm 2023 đến ngày 13 tháng 11 năm 2023, anh V chỉ trả thêm 34.000.000đồng tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản và không trả thêm được khoản nào nữa. Do đòi nợ không được, Lê Thị S đã nhiều lần nhắn tin lăng mạ, chửi bới, xúc phạm anh V.
Đến ngày 02 tháng 11 năm 2024, anh V đến Công an huyện T tố cáo Lê Thị S và Hà Công G về hành vi cho vay nặng lãi và giao nộp ảnh chụp màn hình điện thoại 01 giấy vay tiền. Cùng ngày, Lê Thị S và Hà Công G đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đầu thú, thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân. Hà Công G giao nộp 01 bản sao kê giao dịch tài khoản ngân hàng A - chủ tài khoản là Hà Công G; Lê Thị S giao nộp 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng đã qua sử dụng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thị S, Hà Công G thu giữ: 01 giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, 01 giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH một thành viên H1; các loại giấy tờ, sổ sách ghi chép việc cho vay và thu lãi đối với anh V; 01 điện thoại di động Iphone 7Plus màu vàng đã qua sử dụng của Hà Công G và số tiền 23.600.000đồng.
Tài liệu, đồ vật thu giữ; xử lý vật chứng:
- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho Hà Công G và Lê Thị S số tiền 23.600.000đồng vì xét thấy không liên quan đến việc phạm tội.
- Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, 01 giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH một thành viên H1 cùng các loại giấy tờ, sổ sách ghi chép việc cho vay và thu lãi được đưa vào bảo quản cùng hồ sơ vụ án.
- Chuyển 01 điện thoại di động Iphone 7Plus màu vàng đã qua sử dụng có số Imei 35537608554439 bên trong lắp sim số 8984048841001004839; 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng đã qua sử dụng có số Imei 359605071194660, bên trong lắp sim số 8984048000007006933 đã thu giữ từ kho vật chứng Công an huyện T đến kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn bảo quản chờ xử lý.
* Cáo trạng số 27/CT - VKS - TS, ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố: Lê Thị Sáu và Hà Công Giang về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX.
Tuyên bố: Lê Thị S và Hà Công G phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Điều 201 Bộ luật hình sự.
a, Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 2, 3 Điều 201, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt Lê Thị S: Từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
+ Xử phạt Hà Công G: Từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Phạt bổ sung bị cáo S từ 30.000.000₫ đến 40.000.000đ. Miễn hình phạt bổ sung cho G.
b, Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1,2 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động đã qua sử dụng của Hà Công G. Trả lại chiếc điện thoại cho S.
- Trả lại cho anh Lê Văn V 01 Giấy chứng nhận đăng ký Doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên H1 và 01 Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.
c, Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự.
- Số tiền thu lời bất chính: Buộc bị cáo Lê Thị S và Hà Công G phải trả cho anh Lê Văn V số tiền: 343.741.575đồng. (Anh V đã nhận tiền).
- Khoản tiền gốc: Truy thu sung quỹ Nhà nước của Lê Thị S và Hà Công G số tiền vay gốc của 03 lần là: 275.000.000đồng.
- Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm: Truy thu sung ngân sách Nhà nước của Lê Thị S và Hà Công G của 03 khoản vay là: 76.753.425đồng.
Tại phiên tòa các bị cáo đều nhận tội và không có ý kiến tranh luận đối với Viện kiểm sát, lời nói sau cùng các bị cáo đều mong HĐXX cho hưởng mức án thấp nhất và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đều đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội cụ thể như sau:
Xuất phát từ động cơ tư lợi, trong các ngày 15/10/2021, ngày 05/12/2021 và ngày 14/12/2021, Lê Thị S cùng chồng là Hà Công G đã có hành vi cho ông Lê Văn V vay 03 lần với tổng số tiền là 275.000.000đồng với lãi suất 109,5%/năm, gấp 5,5 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Ngày 21 tháng 4 năm 2023, anh Lê Văn V trả nợ tiền vay gốc cho vợ chồng S, G số tiền 275.000.000đồng.
Thu lợi bất chính từ các khoản vay tổng số tiền 343.741.575 đồng. Cụ thể:
- - Khoản vay 50 triệu đồng ngày 15/10/2021 thu lợi bất chính 67.799.315đồng;
- - Khoản vay 150 triệu đồng ngày 05/12/2021 thu lợi bất chính 185.007.534đồng.
- - Khoản vay 75.000.000 đồng ngày 14/12/2021, thu lợi bất chính 90.664.726đồng.
Tại phiên tòa các bị cáo nhận tội, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa.
Quyết định truy tố và bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn là có căn cứ pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Lê Thị S cùng chồng là Hà Công G đã có hành vi cho anh Lê Văn V vay tiền 03 lần. Tống số tiền thu lời bất chính của S và G là 343.741.575 đồng, đã cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.
[3] Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Các bị cáo Lê Thị S và Hà Công G là hai vợ chồng vì mục đích tư lợi nhằm có tiền chi trả trong sinh hoạt gia đình đã có hành vi dùng tiền cá nhân của gia đình mình cho người khác vay tiền với lãi suất là 109,5%/năm, gấp 5,5 lần của mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Hành vi dùng tiền để kinh doanh bất hợp pháp của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích của công dân, gây thiệt hại cho người vay, làm người vay phải chịu mức lãi quá cao.
Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, gây bất bình trong nhân dân. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét vai trò của các bị cáo.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, giữa bị cáo Lê Thị S và Hà Công G không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau. Mỗi bị cáo có mức độ hành vi phạm tội khác nhau, do đó cần phải đánh giá vai trò, mức độ phạm tội đối với từng bị cáo để có biện pháp xử lý, đảm bảo tính nghiêm minh cũng như thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo Lê Thị S đã có hành vi đứng ra thỏa thuận tiền lãi và đưa tiền vay cho người vay, trực tiếp viết giấy giao hẹn ngày trả tiền lãi và tiền gốc, nên giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Hà Công G là người giúp sức cho S thu tiền lãi qua tài khoản ngân hàng của mình nên giữ vai trò sau S.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng:
Các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, các bị cáo đều có nhân thân tốt sau khi phạm tội tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, luôn chấp hành mọi chủ trương chính sách pháp luật của Nhà nước tại địa phương, được chính quyền thị trấn T xác nhận, các bị cáo đã trả lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính cho anh V, anh V có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo S có bố được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, có anh trai là liệt sĩ. Bị cáo G đã ủng hộ tiền xây dựng nhà ở cho hộ nghèo có xác nhận của MTTQ thị trấn T. Là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy rằng: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, sau khi phạm tội tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội là phạm tội ít nghiêm trọng, chấp hành nghiêm chủ trương chính sách của Nhà nước được chính quyền địa phương xác nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện các bị cáo tự cải tạo sau này trở thành người công dân tốt và không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội và cũng phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Do các bị cáo là vợ chồng, tiền thu lợi chi tiêu gia đình. Sáu phạm tội vai trò cao hơn nên cần xử phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Thị S. G là người giúp sức nên cần miễn hình phạt bổ sung cho G.
[7] Xử lý vật chứng:
- Đối với 02 điện thoại di động thu giữ của Lê Thị S và Hà Công G. Các bị cáo đã dùng làm công cụ phạm tội, nên cần tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 Giấy chứng nhận đăng ký Doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên H1, Mã số doanh nghiệp: 2802182710 do Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Thanh Hóa cấp và 01 Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp do Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh T cấp ngày 24/01/2022. Do anh V đưa cho S làm tin, anh là giám đốc công ty, giấy tờ này không liên quan đến tội phạm. Nên cần trả lại cho anh Lê Văn V.
[8] Biện pháp tư pháp:
[8.1] Về số tiền thu lời bất chính: Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm là khoản tiền Lê Thị S và Hà Công G thu lợi bất chính của người vay, nên buộc các bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho anh Lê Văn V số tiền: 343.741.575đồng.
[8.2] Đối với khoản tiền gốc, do là phương tiện phạm tội nên truy thu sung quỹ Nhà nước của Lê Thị S và Hà Công G: 275.000.000đồng.
[8.3] Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm, đây là khoản phát sinh từ tội phạm nên truy thu sung ngân sách Nhà nước của Lê Thị S và Hà Công G: 76.753.425đồng.
[9] Đối với hành vi của anh Lê Văn Q và anh Trần H có hành vi giúp anh V đưa tiền lãi cho S và G là hoàn toàn khách quan.
Đối với số tiền 725.000.000 đồng mà các bị cáo cho anh Lê Văn V vay, do không xác định được thời gian vay, số tiền lãi đã trả nên không có căn cứ để xử lý.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ: Điều 201 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thị S và Hà Công G, phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng: Khoản 2, (khoản 3 đối với S) Điều 201; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.
+ Xử phạt bị cáo Lê Thị S: 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung Lê Thị S: 40.000.000đ sung ngân sách Nhà nước.
+ Xử phạt bị cáo Hà Công G: 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Thị S và Hà Công G cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn T trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2]. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động của Lê Thị S và Hà Công G bao gồm: 01 điện thoại di động Iphone 7Plus màu vàng đã qua sử dụng có số Imei 35537608554439 bên trong lắp sim số 8984048841001004839; 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng đã qua sử dụng có số Imei 359605071194660, bên trong lắp sim số 8984048000007006933.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn).
- Trả lại cho anh Lê Văn V 01 Giấy chứng nhận đăng ký Doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên H1, Mã số doanh nghiệp: 2802182710 do Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Thanh Hóa cấp và 01 Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp do Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh T cấp ngày 24/01/2022.
[3]. Biện pháp tư pháp:
- Số tiền thu lời bất chính:
Buộc bị cáo Lê Thị S và Hà Công G phải trả cho anh Lê Văn V số tiền: 343.741.575đồng. (Hiện bị cáo Lê Thị S và Hà Công G đã trả số tiền 343.741.575đồng cho anh Lê Văn V theo giấy nhận tiền ngày 11/3/2025)
- Khoản tiền gốc: Truy thu sung ngân sách Nhà nước của Lê Thị S và Hà Công G số tiền: 275.000.000đồng.
- Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm:
Truy thu sung ngân sách Nhà nước của Lê Thị S và Hà Công G số tiền: 76.753.425đồng.
[4]. Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc các bị cáo Lê Thị S và Hà Công G mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn T trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[5]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng: Điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, đối với S, G kể từ ngày tuyên án, đối với anh V kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc Tuấn |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA về hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Sáu và ĐP cho vay lãi nặng
