Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số:26/2025/HS-ST

Ngày: 05-03-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Thái Hà;

  • - Thẩm phán: Bà Mai Thị Minh Hồng;

  • - Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Viết Thiệu - Nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu;

  • Ông Trần Trọng Đại - Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu;

  • Ông Trần Văn Quang - Nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu;

  • - Thư ký phiên toà: Ông Bùi Ngọc Quỳnh và bà Đoàn Thị Kim Phượng - Thư ký TAND tỉnh Nam Định.

  • - Đại diện Viện KSND tỉnh N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí C - Kiểm sát viên.

Ngày 05- 3 -2025 tại trụ sở TAND tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 117/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Hoàng Văn T; Sinh ngày 05/8/2007; tại tỉnh Quảng Bình; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Bru Vân Kiều; Tôn giáo: Không.Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Bản X, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình; Con ông: Hoàng Văn Q; Con bà: Hồ Thị N; Vợ, con: Chưa có.Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 08/10/2024, bị tạm giam từ ngày 17/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

  2. Họ và tên: Hồ Văn D; Sinh năm 2000; Tại tỉnh Quảng Bình; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Bru Vân Kiều; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Bản K, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Con ông: Hồ T1; Con bà: Hồ Thị T2.(Bị cáo là em trai của bị cáo Hồ P và Hồ Văn X); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 08/10/2024, bị tạm giam từ ngày 17/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

  3. Họ và tên: Hồ Văn L; Sinh năm 1998; tại tỉnh Quảng Bình; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Bru Vân Kiều; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Bản K, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Con ông: Hồ T3; Con bà: Hồ Thị V; Có vợ là: Hồ Thị H . Có hai con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020 .Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 08/10/2024, bị tạm giam ngày 17/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

  4. Họ và tên: Hồ P; Sinh năm 1996; Tại tỉnh Quảng Bình; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Bru Vân Kiều; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Bản K, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Con ông: Hồ T1; Con bà: Hồ Thị T2. (Bị cáo là anh trai của bị cáo Hồ Văn X và Hồ Văn D); Có vợ là: Hồ Thị G; Có một con sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 08/10/2024, bị tạm giam từ ngày 17/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

  5. Họ và tên: Hồ Văn X; Sinh năm 1997; Tạitỉnh Q; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Bru Vân Kiều; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Nơi ĐKHKTT: Bản K, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Con ông: Hồ T1; Con bà: Hồ Thị T2. (Bị cáo là em trai của bị cáo Hồ P và là anh trai của bị cáo Hồ Văn D); Có vợ là: Hồ Thị T4; Có hai con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2024.Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 08/10/2024, bị tạm giam từ ngày 17/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

  6. Họ và tên: Hoàng M; Sinh năm 2001; Tại tỉnh Quảng Bình; Tên gọi khác: Không.Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Bru Vân Kiều; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Bản X, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình; Con ông: Hoàng Văn B; Con bà: Hồ Thị B1;Có vợ là: Hồ Thị N1 (đã ly hôn). Bị cáo có một con sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 08/10/2024, bị tạm giam từ ngày 17/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

  7. Họ và tên: Hồ Văn T5; Sinh năm 2003; Tại tỉnh Quảng Bình; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: PaCô; Tôn giáo: Không.Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Con ông: Hồ Văn L1; Con bà: Hồ Thị P1; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 09/10/2024, bị tạm giam từ ngày 18/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

  8. Họ và tên: Lù Văn Đ; Sinh năm 1995; Tại tỉnh Hà Giang; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang. Con ông: Lù Văn T6; Con bà: Cáo Thị R; Có vợ là: Vàng Thị H1 (đã ly hôn). Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 08/10/2024 đến ngày 17/10/2024 được hủy bỏ tạm giữ, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

  9. Họ và tên: Cháng Mai N2; Sinh năm 1996; Tại tỉnh Hà Giang; Tên gọi khác: Không.Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi ĐKHKTT: Bản M, xã B, huyện Y, tỉnh Hà Giang; Con ông: Cháng T; Con bà: Hù Thị D1; Vợ, con: Chưa có.Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 08/10/2024 đến ngày 17/10/2024 được hủy bỏ tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

  • * Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T: Bà Trần Thị N3, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T13, Sở tư pháp tỉnh Nam Định. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hoàng Văn T: Anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1986 và chị Hồ Thị N, sinh năm 1983; Địa chỉ: Bản X, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

  • * Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn D: Ông Nguyễn Hoài T7, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T13, Sở tư pháp tỉnh Nam Định. Có đơn xin xét xử vắng mặt, có gửi bài bào chữa.

  • * Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn L:

    1. Bà Đinh Thị Thanh T8, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T13, Sở tư pháp tỉnh Nam Định. Có mặt.

    2. Luật sư Đào Văn T9, Luật sư thuộc Công ty L3 - Chi nhánh Q3, địa chỉ: B L, phường Đ, tp Đ, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

  • * Người bào chữa cho bị cáo Hồ P: Bà Nguyễn Thị H2, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T13, Sở tư pháp tỉnh Nam Định. Có đơn xin xét xử vắng mặt, có gửi bài bào chữa.

  • * Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn X: Luật sư Lê Ngọc V1, Văn phòng L4, Đoàn Luật sư tỉnh N. Có mặt.

  • * Người bào chữa cho bị cáo Hoàng M: Bà Trần Thị T10, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T13, Sở tư pháp tỉnh Nam Định. Có mặt.

  • * Người bào chữa cho bị cáo Lù Văn Đ: Bà Trần Thị T11, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T13, Sở tư pháp tỉnh Nam Định. Có đơn xin xét xử vắng mặt, có gửi bài bào chữa.

  • * Người bào chữa cho bị cáo Cháng Mai N2: Bà Trần Thị N4, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T13, Sở tư pháp tỉnh Nam Định. Có mặt.

  • *Bị hại: Anh Thèn Đức X1, sinh năm 1999 (đã chết);

    Trú tại: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang.

Người đại diện hợp pháp của anh X1: Ông Thèn Văn L2, sinh năm 1982 và bà Thèn Thị B2, sinh năm 1979 (là bố, mẹ đẻ của anh X1).

Trú tại: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

  • * Người làm chứng: Chị Thèn Thị V2; Anh Hồ Văn S, Chị Hoàng Thị Q1. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Về hành vi “Giết người” và hành vi “Gây rối trật tự công cộng”:

    Khoảng 21 giờ ngày 06/10/2024, Hoàng Văn T cùng với Hoàng M; Hồ Văn L; Hồ Văn D; Hồ Văn T5 ngồi uống rượu tại quán “Ốc Phương 66” - địa chỉ tại: Tổ dân phố G, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì L đi về còn lại M, T, D cùng T5 tiếp tục ngồi lại quan ốc để ăn uống.

    Cùng lúc này, anh Thèn Đức X1 điều khiển xe máy và Cháng Mai N2 đi qua quán “Ốc Phương 66” nên đã vào ngồi ăn uống cùng với nhóm của M (do có quen biết nhau từ trước). Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, trong lúc ăn uống thì X1 nói với D: “Mày mà làm Công ty anh thì không ai dám đụng đến mày. Chỉ có anh mới dám đụng đến mày”, T nghe X1 nói như vậy thấy khó chịu nên nhìn chằm chằm vào X. Xanh nói với T: “Nhìn mặt thằng này thái độ, tao gặp thằng này chỗ nào tao đánh chỗ đấy”. Thấy vậy, M và N2 can ngăn, bảo X1 đi về nhưng X1 tiếp tục chửi bới T. Sau đó, T nhặt 01 chiếc ghế nhựa đang ngồi giơ lên định đánh X1 thì bị X1 nói: “Mày muốn đánh anh à, mày đánh thì mày đánh đi” rồi X1 cùng N2 đuổi đánh T nên T bỏ chạy về phòng trọ cách quán ốc khoảng 50m. Lúc này, N2 tiếp tục can ngăn, rủ X1 đi về nhưng X1 không đồng ý và nói: “Hôm nay em phải xử thằng này, anh hộ em tý”, mục đích X2 rủ N2 đánh T. N2 đồng ý rồi cùng X2 đứng đợi T quay lại. Sau đó, X2 gọi điện Lù Văn Đ và nhờ Đ đến quán “Ốc P2” để giải quyết mâu thuẫn giúp. Đ đồng ý.

    Khi T chạy về phòng trọ, T cởi quần áo dài đang mặc và cởi trần, mặc quần đùi rồi lấy 01 con dao làm bằng kim loại sáng màu, dài 23,5cm, lưỡi dao dài 14,5cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 2,5cm, có mũi nhọn, một cạnh sắc làm hung khí đánh nhau với X2. Lúc này, anh Hồ Văn S - sinh năm 2005, trú tại: Thôn K, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình ở cùng phòng trọ với T nhìn thấy T mang dao đi nên hỏi T: “Mày cầm dao đi đâu đấy?”, đồng thời can ngăn, không cho T đi nhưng T không nghe nên anh S liền gọi chị Hoàng Thị Q1 (là dì của T) - sinh năm 1990, trú tại: Bản M, xã L, huyện L, tỉnh Quảng Bình (ở cùng dãy trọ với T) điều khiển xe máy đuổi theo T để tiếp tục can ngăn .

    Đến khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày, T cầm dao ở tay phải đi trên đường trục thuộc tổ dân phố G, phường M, thành phố N thì gặp X2, N2 đi từ quán ốc theo hướng ngược lại nên T nói với X2: “Khi nãy anh muốn đánh em phải không”, T5, D, M cùng anh S, chị Q1 can ngăn không cho T đánh nhau với anh X2. T tiếp tục cầm dao ở tay phải, vung loạn xạ về phía anh X2 nhưng không trúng. anh X2 dùng tay phải đấm về phía T nhưng không trúng. N2 dùng tay phải đấm 01 phát trúng mặt T làm T ngã ngửa về phía sau, đập đầu vào đuôi xe máy của anh Trần Quyết D2 ở trước cửa nhà anh Q2. T đứng dậy bỏ chạy thì X2 lao tới, nhảy lên dùng chân trái đạp 01 phát trúng người Tuyên làm T ngã ngửa vào bụi cây, đồng thời X2 cũng bị ngã nằm trên người Tuyên. Trong lúc anh X2 đang nhổm người lên thì T cầm dao vung lên cao đâm liên tiếp 05 phát từ trên xuống trúng vào người anh X2, trong đó có 01 phát trúng vào đầu trong xương đòn trái bờ trên, 01 phát trúng vào vùng trán bên trái, 01 phát trúng vào vùng trán phải, 01 phát trúng vào vùng mông bên trái và 01 phát trúng vào vùng bả vai trái của X2.

    Khi anh X2 đạp T ngã vào khu vực bồn cây thì Lù Văn Đ tháo mũ lưỡi trai bằng nhựa màu đen (dạng mũ bảo hiểm) đang đội ở trên đầu chạy đến, dùng mũ đập 01 phát trúng vào vùng đầu của T làm mũ vỡ ra thành nhiều mảnh nhưng không gây thương tích gì cho T. Lúc này, mọi người chạy đến can ngăn, kéo Xanh ra, T đứng dậy thì bị N2 tiếp tục dùng tay phải đấm 01 phát trúng vào vùng mặt nên T bỏ chạy, đồng thời Đ cầm mảnh vỡ còn lại của mũ bảo H3 tiếp tục đuổi theo để đánh T nhưng bị S ôm, lôi lại. Sau đó, Đ tiếp tục đuổi theo T khoảng 30m nhưng không đuổi kịp nên quay lại còn X2 sau khi bị T đâm thì đứng dậy đi được khoảng 10 bước thì ngục ngã và được mọi người đến Bệnh viện đa khoa tỉnh N để cấp cứu. Hậu quả: anh X2 bị tử vong trên đường đi cấp cứu .

  2. Về hành vi “Che giấu tội phạm”:

    Sau khi dùng dao đâm anh X2 thì T ném con dao cách vị trí đâm anh X2 khoảng 30m rồi bỏ chạy về phòng trọ của mình. Khi về phòng trọ, T tắm, thay quần áo rồi trốn trên tầng thượng của nhà trọ. Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, T từ tầng thượng đi xuống thì gặp Hồ Văn L, T kể lại cho L nghe về việc T dùng dao đâm anh X2, xác định “Xanh không sống được” nên T nhờ L chở về quê trốn. L đồng ý và bảo T thu xếp quần áo còn L về phòng trọ của mình để lấy đồ đạc rồi sẽ cùng với T trốn về quê.

    Khoảng 00 giờ 22 phút ngày 07/10/2024, L điều khiển xe máy Exciter BKS: 73G1 - 358.98 đến đón T. Sau đó D gọi T và L đến phòng trọ của D để bàn bạc. Tại đây T, L gặp D, T5, M. T kể, mô tả lại hành động đã dùng dao đâm X2, lo sợ “Xanh không sống được” nên T muốn bỏ trốn và hỏi vay tiền D. D đã đưa cho T 1.000.000 đồng, T cầm tiền và đưa cho L để chi tiêu dọc đường trốn. Lo sợ liên quan đến sự việc xô xát đánh nhau bị lực lượng Công an truy bắt và muốn giúp T bỏ trốn về quê nên D, M thống nhất sẽ cùng trốn về quê với T ngay trong đêm để hỗ trợ T trên đường bỏ trốn, tránh sự truy đuổi của cơ quan Công an. T, L, D, T5, M thống nhất dùng xe máy là phương tiện chở T bỏ trốn về tỉnh Quảng Bình. D điện thoại cho Hồ P (là anh trai lớn nhất của D) thông báo về việc mình có liên quan đến vụ đánh nhau, hỏi vay tiền và hẹn sẽ đến lấy xe máy để bỏ trốn về quê. Hồ Phên đã điện thoại cho Hồ Văn X (là anh trai thứ hai của D), thông báo nội dung D liên quan vụ đánh nhau và bảo X đến nhà P.

    Sau đó T5 điều khiển xe máy Sirius chở M với D, L điều khiển xe máy Exciter màu xanh BKS: 73G1 - 358.98 chở T đi đến phòng trọ của Hồ P để lấy xe của D. Tại đây T kể lại cho P nghe sự việc T đâm X2 và không biết đường bỏ trốn nên cả nhóm T nhờ P dẫn đường đi sang Ninh Bình để từ đó bỏ trốn về Quảng Bình, P đồng ý. Khoảng 10 phút sau, Hồ Văn X đi xe máy Airblade đen, BKS 73G1 - 269.39 đến, T tiếp tục, kể, mô tả lại hành động T sử dụng dao đâm X2 cho X biết nên X đồng ý cùng với P dẫn đường cho nhóm T sang Ninh Bình để bỏ trốn về Quảng Bình. Trước khi xuất phát, T, D nhờ T5 đi ra ngoài “cảnh giới” và xem xét tình hình nếu có lực lượng Công an đến thì thông báo lại cho cả nhóm biết. T5 đi ra ngoài xem xét tình hình, không thấy lực lượng chức năng nên báo lại cho nhóm T rồi T5 đi xe máy Sirius về. Còn lại 6 người đi trên 03 xe máy gồm: Xi điều khiển xe máy Exciter, BKS 73E1 - 269.59 chở M, L điều khiển xe Exciter, BKS: 73G1 – 358.98 chở T, P điều khiển xe Airblade đen, BKS 73G1- 269.39 chở D đi theo tuyến đường QL10.

    Khi đến TP ., P đưa thêm cho D 500.000đ rồi điều khiển xe máy Exciter BKS 73E1- 269.59 chở X đi về Nam Định, còn lại L điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS: 73G1- 358.98 chở T, D điều khiển xe máy Honda Airblade BKS 73G1 - 269.39 chở M tiếp tục di chuyển trên tuyến đường QL 1A cũ đi qua địa phận tỉnh Ninh Bình hướng về tỉnh Quảng Bình để bỏ trốn.

    Đến khoảng 09 giờ 40 phút ngày 07/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã phối hợp cùng với các lực lượng chức năng thuộc Công an tỉnh H triệu tập làm việc đối với: Hoàng Văn T, Hồ Văn L, Hồ Văn D, H khi các đối tượng này đang điều khiển xe máy đi trên Quốc lộ A cũ thuộc địa phận huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 08/10/2024, Hồ Văn T5 đã đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N để đầu thú, khai nhận về hành vi phạm tội của mình.

    Ngày 07/10/2024, chị Thèn Thị V2 (em gái của anh Thèn Đức X1) đã đến Công an thành phố N, tỉnh Nam Định để trình báo .

    Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã tiếp nhận tin báo từ Cơ quan CSĐT Công an thành phố N, tỉnh Nam Định và tiến hành các biện pháp điều tra: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi Thèn Đức X1, thu thập lời khai những người làm chứng, người liên quan và ghi nhận các dấu vết để lại tại hiện trường là: 01 mẫu máu của Thèn Đức X1 - niêm phong, ký hiệu: M; các chất màu nâu đỏ thu giữ tại hiện trường, được niêm phong - ký hiệu lần lượt là: A1, A3, A4, A5; đồng thời thu giữ những vật chứng gồm: 02 ml máu của Thèn Đức X1 đựng trong 01 tuýp nhựa dung tích 05 ml, trên tuýp có ghi “nồng độ cồn, ma túy (được niêm phong); 20 ml nước tiểu của Thèn Đức X1 đựng trong 01 chai nhựa dung tích 500 ml (được niêm phong); các mẫu phủ tạng của Thèn Đức X1 gồm: Tim, gan, phổi, dạ dày, thực quản và chất chứa dịch dạ dày được đựng lần lượt trong các lọ nhựa; 01 (một) con dao dài 23,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 14,5cm, bản lưỡi rộng 2,5 cm, lưỡi dao có 01 cạnh sắc, 01 mũi nhọn, cán dao bằng nhựa màu xanh, bám dính nhiều chất màu nâu đỏ - niêm phong, ký hiệu: A6; 01 chiếc dép chân phải; 01 đôi dép; 02 giỏ nhựa màu trắng, màu đen; 07 mảnh nhựa màu đen (kiểu mũ bảo hiểm xe máy lưỡi trai); 01 xe máy nhãn hiệu Wave sơn màu xanh, BKS: 18Z7 - 9800 có số khung: VTMPCHI02YT028940, số máy: 1P52FMH - 310298984 của Thèn Đức X1;

    Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 đoạn video có dung lượng 47,7 MB, thời gian trong đoạn video là từ 23 giờ 10 phút 21 giây ngày 06/10/2024 đến 23 giờ 14 phút 20 giây ngày 06/10/2024 và 01 đoạn video có dung lượng 46,8 MB, thời gian trong đoạn video là từ 23 giờ 10 phút 16 giây ngày 06/10/2024 đến 23 giờ 13 phút 55 giây ngày 06/10/2024 (thời gian trong video đúng với thời gian thực tế) được trích xuất từ camera số 01, 02 do anh Trần Q2 - sinh năm 1986, trú tại: Tổ dân phố G, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định ghi lại toàn bộ diễn biến nội dung vụ việc, được niêm phong - ký hiệu lần lượt là: A1, A2.

    Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N ra Quyết định trưng cầu giám định pháp y về tử thi đối với Thèn Đức X1; giám định về ADN giữa các mẫu chất màu nâu đỏ, mẫu máu thu giữ trên 01 con dao tại hiện trường với mẫu máu của Thèn Đức X1; giám định đối với 02 đoạn video được lưu trữ trong 02 đĩa DVD; giám định độc chất, mô bệnh học đối với mẫu máu, mẫu nước tiểu, mẫu phủ tạng của Thèn Đức X1; giám định phương tiện nguy hiểm đối với 07 mảnh nhựa màu đen (kiểu mũ bảo hiểm xe máy lưỡi trai) và các Quyết định trưng cầu giám định số khung, số máy đối với 01 xe máy Wave màu xanh, BKS: 18Z7 - 9800 có số khung: VTMPCHI02YT028940, số máy: 1P52FMH - 310298984; 01 xe máy Honda Airblade màu đen, BKS: 73G1 - 269.39 có số khung: RLHJF6312KZ013471, số máy: JF63E - 2472534; 01 xe máy Yamaha Exciter màu xanh, BKS: 73G1 - 358.98 có số khung: RLCUG1210NY086401, số máy: G3M5E - 171363; 01 xe máy Yamaha Exciter màu đỏ, BKS: 73E1 - 269.59 có số khung: RLCUG0610FY164906, số máy: G3D4E-177812.

    Tại Bản kết luận giám định tử thi số 1695/KLGĐTT-KTHS ngày 18/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Nạn nhân Thèn Đức X1 chết do sốc mất máu cấp; Cơ chế: Vết thương do tác động trực tiếp của vật sắc nhọn.

    Tại Bản kết luận giám định ADN số 562/24/KLGDADN-PYQG ngày 14/10/2024 của V4 - Bộ Y, kết luận: Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên các mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A3, A4, A5, A6: Dương tính; ADN thu từ mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A3, A5, A6 trùng khớp hoàn toàn với ADN của Thèn Đức X1 (mẫu ký hiệu M) trên tất cả các locus STR đã so sánh; T12 được dữ liệu ADN của một nam giới từ mẫu gửi giám định ký hiệu A4, không trùng khớp với ADN của Thèn Đức X1 (mẫu ký hiệu M) trên các locus STR đã so sánh.

    Tại Bản kết luận giám định mô bệnh học số 133/24/KLMBH-VPYQG ngày 29/10/2024 của V4 - Bộ Y, kết luận: Tim: Phù, sung huyết, tăng sinh xơ, mỡ; Phổi: Sung huyết, phế nang xẹp, phế quản chứa ít hồng cầu; Thực quản: Chảy máu quanh thực quản; Dạ dày: Phù, lòng mạch chứa ít hồng cầu; Gan: Lòng mạch chứa ít hồng cầu

    Tại Bản kết luận giám định độc chất số 683/923/24/KLGĐĐC-PYQG ngày 23/10/2024 của V4 - Bộ Y, kết luận: 1. Mẫu máu: Có tìm thấy E với hàm lượng 196, 54 mg/100ml; Không tìm thấy các chất độc khác nêu trên; 2. Mẫu phủ tạng và nước tiểu: Không tìm thấy các chất độc nêu trên.

    Tại Bản kết luận giám định số 1886/KL-KTHS ngày 15/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định (Ký hiệu: A1, A2). Ngày 11/11/2024, Phòng K Công an tỉnh N có Công văn số 541/PC09-Đ1 gửi Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N trả lời về việc từ chối tiếp nhận giám định phương tiện nguy hiểm đối với 07 mảnh nhựa màu đen (kiểu mũ bảo hiểm xe máy lưỡi trai) do nội dung yêu cầu giám định không phù hợp với phạm vi chuyên môn.

    Ngày 27/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định số khung, số máy đối với 04 xe máy đã thu giữ. Tại Bản kết luận giám định về số khung, số máy số 1930/KL-KTHS ngày 29/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Số khung: VTMPCHI02YT028940, số máy: 1P52FMH - 310298984 của xe máy Wave màu xanh, BKS: 18Z7 - 9800; Số khung: RLHJF6312KZ013471, số máy: JF63E - 2472534 của xe máy Honda Airblade màu đen, BKS: 73G1 - 269.39; Số khung: RLCUG1210NY086401, số máy: G3M5E - 171363 của xe máy Yamaha Exciter màu xanh, BKS: 73G1 - 358.98; Số khung: RLCUG0610FY164906, số máy: G3D4E - 177812 của xe máy Yamaha Exciter màu đỏ, BKS: 73E1 - 269.59 đều là các số nguyên thủy của nơi sản xuất.

    Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Văn T, Cháng Mai N2, Lù Văn Đ, Hồ Văn L, Hồ Văn D, Hoàng M, Hồ P, Hồ Văn X và Hồ Văn T5 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án .

    Trong quá trình giải quyết, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

    • 01 chiếc dép chân phải; 01 đôi dép; 02 giỏ nhựa màu trắng, màu đen; 07 mảnh nhựa màu đen (kiểu mũ bảo hiểm xe máy lưỡi trai).

    • 01 túi niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định của V4 - ký hiệu V562A6.24 (bên trong có con dao sắc nhọn bằng kim loại).

    • 01 Căn cước công dân (CCCD) số [...] mang tên Hồ Văn D;

    • 01 CCCD số [...] mang tên Hồ Văn L; 01 CCCD số [...] mang tên Hồ Văn T5; 01 CCCD số [...] mang tên Hoàng Văn T.

    • 01 xe máy Wave sơn màu xanh, BKS: 18Z7 - 9800 có số khung: VTMPCHI02YT028940, số máy: 1P52FMH - 310298984 của Thèn Đức X1; 01 Giấy đăng ký xe máy số 023116 (loại: Honda Airblade, BKS: 73G1 - 269.39 mang tên Hồ Văn X) và 01 xe máy Honda Airblade màu đen, BKS: 73G1 - 269.39 có số khung: RLHJF6312KZ013471, số máy: JF63E - 2472534 của Hồ Văn D; 01 xe máy Yamaha Exciter màu xanh, BKS: 73G1 - 358.98 có số khung: RLCUG1210NY086401, số máy: G3M5E - 171363 của Hồ Văn L; 01 xe máy Yamaha Exciter màu đỏ, BKS: 73E1 - 269.59 có số khung: RLCUG0610FY164906, số máy: G3D4E - 177812 của Hồ Phên .

    • 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu đen, màn hình đã nứt vỡ của Hồ Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen, màn hình đã nứt vỡ của Hồ Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu đen của Hồ Văn X; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO vỏ màu xanh của Cháng Mai N2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ màu vàng của Hồ Văn T5; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme vỏ màu tím than, màn hình đã nứt vỡ của Hoàng M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng, màn hình đã nứt vỡ của Hồ Phên .

    Bản cáo trạng số 03/CT-VKSND-P2 ngày 24 - 12-2024 của Viện KSND tỉnh N đã:

    Truy tố Hoàng Văn T về tội “Giết người” quy định tại điểm n, khoản 1, Điều 123 BLHS.

    Truy tố các bị cáo: Hồ Văn D, Hồ Văn L, Hồ P, Hồ Văn X, Hoàng M và Hồ Văn T5 về tội “Che giấu tội phạm” quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 389 BLHS.

    Truy tố Các bị cáo: Lù Văn Đ, Cháng Mai N2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1, Điều 318 BLHS.

    Tại phiên toà:

    Các Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung kết luận điều tra, xác định việc truy tố của Viện KSND tỉnh N đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan.

    Đại diện Viện KSND tỉnh N vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng và quyết định đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng nêu trên và đề nghị HĐXX tuyên bố:

    • - Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Giết người”

    • - Các bị cáo Hồ Văn D, Hồ Văn L, Hồ P, Hồ Văn X, Hoàng M và Hồ Văn T5 về phạm tội “Che giấu tội phạm” ;

    • - Các bị cáo: Lù Văn Đ, Cháng Mai N2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”;

    Áp dụng điểm n, khoản 1, Điều 123; Các điểm b, s, khoản 1, Điều 51; Điều 38, 91; khoản 1, Điều 101 BLHS đề nghị xử phạt: Xử phạt Hoàng Văn T từ 16 năm đến 17 năm tù;

    Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 389 BLHS; Điều 17, 38, 58; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 BLHS : Xử phạt Hồ Văn D, Hồ Văn L từ 15 đến 18 tháng tù

    Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 389 BLHS; Điều 17, 38, 58; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 BLHS Xử phạt: Hồ Phên, Hồ Văn X, Hoàng M và Hồ Văn T5 từ 12 đến 15 tháng tù.

    Áp dụng khoản 1, Điều 318 BLHS; Điều 17, 58, 65; các điểm i, s, khoản 1, Điều 51 BLHS Xử phạt Lù Văn Đ, Cháng Mai N2 từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 18 đến 24 tháng.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với tất cả các bị cáo.

    Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS, Điều 491; 586 BLDS ghi nhận việc và đại diện của bị cáo bị cáo Hoàng Văn T phải bồi thường số tiền còn lại 293.500.000đ cho đại diện của bị hại. Nếu Hoàng Văn T không có tài sản để bồi thường thì ông Hoàng Văn Q và bà Hồ Thị N là bố, mẹ có trách nhiệm bồi thường.

    Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS tuyên:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc dép chân phải; 01 đôi dép; 02 giỏ nhựa màu trắng, màu đen; 07 mảnh nhựa màu đen (kiểu mũ bảo hiểm xe máy lưỡi trai); 01 túi niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định của V4 - ký hiệu V562A6.24 (bên trong có con dao sắc nhọn bằng kim loại).

    NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

    Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

    1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND tỉnh Nam Định: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND tỉnh Nam Định đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án đều hợp pháp.

      Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của Người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của BLTTHS.

    2. Về quan điểm của Đại diện VKS, người bào chữa, bị cáo, đại diện của bị hại tại phần thủ tục tranh tụng: HĐXX thấy việc tranh luận, đối đáp đúng trình tự quy định của pháp luật, các bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình khi tranh tụng. Quan điểm tranh tụng của các bên đã được HĐXX cân nhắc, đánh giá khi nghị án. Quan điểm của Đại diện VKS về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

    3. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên toà và tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án - HĐXX thấy đã có đủ căn cứ kết luận:

      Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 06/10/2024, trong quá trình ăn uống tại quán “Ốc Phương 66” - địa chỉ tại: Tổ dân phố G, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định giữa Hoàng Văn T và anh Thèn Đức X1 xảy ra mâu thuẫn nên T đã về phòng trọ của mình cách quán ăn khoảng 50m, lấy hung khí là 01 con dao dài 23,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 14,5cm, bản lưỡi rộng 2,5 cm, lưỡi dao có 01 cạnh sắc, 01 mũi nhọn với mục đích quay lại quán ăn để đâm anh X1. Khi T cầm theo dao đi đến đường trục TDP G, P. M, TP . thì gặp anh X1 đi từ quán “Ốc Phương 66" theo hướng ngược lại. Giữa T và anh X1 tiếp tục xảy ra cãi chửi nhau, lúc này T5, D, M cùng anh Hồ Văn S, chị Hoàng Thị Q1 đã can ngăn. Trong lúc T và X1 đang giằng co, xô xát thì tay phải T cầm dao vung loạn xạ về phía X1 nhưng không trúng. N2 đi tới dùng tay phải đấm 01 phát trúng mặt T làm T ngã ngồi ra phía sau. T đứng dậy bỏ chạy thì bị X1 lao tới, nhảy lên dùng chân đạp 01 phát trúng người làm T ngã ngửa xuống vệ đường, X1 cũng bị ngã sấp nằm trên người Tuyên. Trong khi anh X1 đang nhổm người lên, thì T cầm dao vung lên cao đâm liên tiếp 05 phát từ trên xuống trúng vào người anh X1 trong đó: 01 phát trúng vào đầu trong xương đòn trái bờ trên, 01 phát trúng vào vùng trán bên trái, 01 phát trúng vào vùng trán phải, 01 phát trúng vào mông bên trái và 01 phát trúng vào bả vai trái của anh Thèn Đức X1. Hậu quả anh X1 tử vong trên đường đi cấp cứu do vết thương thấu tim, chảy máu cấp.

      Cháng Mai N2 là người có mặt từ đầu và biết rõ nội dung, diễn biến sự việc. Sau khi T bỏ đi, X1 đã rủ N2 ở lại đợi T quay lại để đánh, N2 đồng ý ở lại giúp sức cho X1. Lù Văn Đ, khi nghe X1 gọi điện thông báo bị đánh và nhờ Đ đến ứng cứu đã đi ngay tới hiện trường với mục đích đánh nhau. Khi T cầm dao đi đến xảy ra giằng co, xô xát với X1; N2 đã đấm vào mặt T, gạt chân làm T ngã xuống đường tạo điều kiện để X1 chạy đến đạp ngã T vào bồn cây. Lúc này Đ có mặt dùng mũ bảo hiểm đập trúng vào đầu T làm mũ bị vỡ. Sau khi T đâm X1 và vùng dậy bỏ chạy thì bị N2 đấm vào mặt. Đ đuổi theo để đánh T nhưng không đuổi kịp. Hành vi của Lù Văn Đ, Cháng Mai N2 đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tổ dân phố G, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định và có hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là anh Thèn Đức X1 tử vong.

      Sau khi xảy ra sự việc, Hoàng Văn T đã kể lại cho Hồ Văn D, Hồ Văn L, Hồ P, Hồ Văn X, Hoàng M, Hồ Văn T5 về việc T dùng dao đâm, gây thương tích cho anh X1, xác định “anh X1 không sống được” T đã nhờ D, L, P, X, M, T5 giúp T bỏ trốn về tỉnh Quảng Bình. Sau khi biết hành vi phạm tội của T, mặc dù có đủ thời gian để trình báo Cơ quan chức năng về hành vi phạm tội của Hoàng Văn T nhưng các bị cáo lại bàn bạc, chuẩn bị phương tiện, tiền và cảnh giới, giúp sức cho Hoàng Văn T trốn về tỉnh Quảng Bình.

      Hành vi bị cáo Hoàng Văn T là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ đã trực tiếp xâm phạm đến trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của bị hại là khách thể đặc biệt được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, mang tính nguy hiểm cao. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ khả năng nhận thức được sự nguy hiểm của việc khi sử dụng hung khí tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại có nhiều khả năng xâm hại đến tính mạng bị hại nhưng vẫn cố ý thực hiện chỉ vì lý do nhỏ nhặt dẫn đến anh xanh tử vong nên hành vi của bị cáo đã phạm tội “Giết người” thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS.

      Hành vi của Hồ Văn D, Hồ Văn L, Hồ P, Hồ Văn X, Hoàng M, Hồ Văn T5 là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của Cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phát hiện, xử lý, điều tra tội phạm - là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo biết H T phạm tội “Giết người” nhưng không trình báo cơ quan có thẩm quyền, giúp T bỏ trốn là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

      Hành vi của Lù Văn Đ, Cháng Mai N2 là hành vi nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ đã trực tiếp xâm phạm tới trật tự nơi công cộng - là khách thể được bộ luật hình sự ghi nhận và bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo nhận thức được việc đánh nhau ở nơi công cộng là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, không những thế, hành vi của các bị cáo còn ảnh hưởng tới nếp sống văn minh, quy tắc sống của xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, chính trị ở địa phương và trật tự an toàn xã hội.

      Trong vụ án này, bị cáo Hoàng Văn T giữ vai trò chính. Các bị cáo: Hồ Văn D, Hồ Văn L, Hồ P, Hồ Văn X, Hoàng M, Hồ Văn T5 giữ vai trò đồng phạm giản đơn về tội phạm “Che giấu tội phạm”, các bị cáo Lù Văn Đ, Cháng Mai N2 đồng phạm giản đơn về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

      Từ những chứng cứ nêu trên - HĐXX nhận thấy:

      Hành vi dùng dao đâm anh Thèn Đức X1 dẫn đên việc anh X1 tử vong của Hoàng Văn T đã có đủ yếu tố cấu thành tôi “Giết người”- Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 123 BLHS;

      Hành vi của Hồ Văn D, Hồ Văn L, Hồ P, Hồ Văn X, Hoàng M, Hồ Văn T5 khi biết Hoàng Văn T phạm tội “Giết người” nhưng không trình báo cơ quan có thẩm quyền, giúp T bỏ trốn đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Che dấu tội phạm” - Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 389 BLHS;

      Hành vi của Lù Văn Đ, Cháng Mai N2 cùng Hoàng Văn T đánh nhau với anh Thèn Đức X1 nơi công cộng đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” - Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 318 BLHS.

      Do vậy việc VKSND tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo tại Bản cáo trạng số 03/CT-VKSND-P2 ngày 24- 12-2024 truy tố Hoàng Văn T về tội “Giết người” quy định tại điểm n, khoản 1, Điều 123 BLHS; Truy tố các bị cáo: Hồ Văn D, Hồ Văn L, Hồ P, Hồ Văn X, Hoàng M và Hồ Văn T5 về tội “Che giấu tội phạm” quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 389 BLHS; Truy tố các bị cáo: Lù Văn Đ, Cháng Mai N2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1, Điều 318 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

      1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo: Hoàng Văn T, Hồ Văn D, Hồ Văn L, Hồ P, Hồ Văn X, Hoàng M, Hồ Văn T5, Lù Văn Đ và Cháng Mai N2 không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại Điều 52 BLHS.

      2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

        Đối với bị cáo Hoàng Văn T: Khi phạm tội dưới 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường cho đại diện của bị hại; hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là người đồng bào thiểu số, tại phiên tòa đã đồng ý cùng gia đình bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của gia đình bị hại, đại diện của bị hại đã có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng các tính tiết quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

        Các bị cáo: Hồ Văn D, Hồ Văn L, Hồ P, Hồ Văn X, Hoàng M và Hồ Văn T5 trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động đến gia đình hỗ trợ, khắc phục một phần thiệt hại cho người bị hại; Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là người đồng bào thiểu số nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 BLHS.

        Các bị cáo: Lù Văn Đ, Cháng Mai N2 trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là người đồng bào thiểu số nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại các điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

        Ngoài ra, gia đình bị cáo Cháng Mai N2 có thân nhân là người có công, Hồ Văn T5 sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định khoản 2 Điều 51 BLHS.

        HĐXX xét thấy: Khi quyết định hình phạt cũng cần cân nhắc tới các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để vừa thể hiện nguyên tắc nhân đạo, công bằng của pháp luật, vừa đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo.

        Về hình phạt :

        Đối với các bị cáo Hoàng Văn T; Hồ Văn D, Hồ Văn L, Hồ P, Hồ Văn X, Hoàng M và Hồ Văn T5 cần áp dụng hình phạt, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung tình hình tội phạm.

        Đối với các bị cáo Lù Văn Đ, Cháng Mai N2 xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, đều có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhất thời phạm tội. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS, HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đảm bảo việc giáo dục cải tạo các bị cáo.

      3. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

      4. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, đại diện hợp pháp của bị hại là ông Thèn Văn L2 yêu cầu bị cáo Hoàng Văn T bồi thường tổng số tiền là 397.000.000 đồng các bị cáo đã tác động và đại diện gia đình các bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền là 103.500.000 đồng, cụ thể:

        • - Ông Hoàng Văn Q là bố đẻ của bị cáo Hoàng Văn T đã bồi thường tổng số tiền là 19.750.000 đồng.

        • - Bà Hồ Thị V3 là mẹ đẻ của bị cáo Hồ Văn L đã bồi thường tổng số tiền là 18.750.000 đồng.

        • - Bà Hồ Thị T2 là mẹ đẻ của các bị cáo: Hồ Phên, Hồ Văn X, Hồ Văn D đã bồi thường tổng số tiền là 31.000.000 đồng.

        • - Ông Hoàng B là bố đẻ của bị cáo Hoàng M đã bồi thường tổng số tiền là 17.250.000 đồng.

        • - Ông Hồ Văn L1 là bố đẻ của bị cáo Hồ Văn T5 đã bồi thường tổng số tiền là 16.750.000 đồng.

        Tại phiên tòa: Bị cáo Hoàng Văn T và người đại diện nhât trí bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của bị hại 293.500.000đ; Các bị cáo Hồ Văn D, Hồ Văn L, Hồ P, Hồ Văn X, Hoàng M và Hồ Văn T5 nhất trí không yêu cầu bị cáo Hoàng Văn T phải trả lại số tiền mà gia đình các bị cáo đã hỗ trợ khắc phục cho gia đình bị hại.

      5. Vật chứng của vụ án và các đồ vật đã thu giữ:

        • 01 chiếc dép chân phải; 01 đôi dép; 02 giỏ nhựa màu trắng, màu đen; 07 mảnh nhựa màu đen (kiểu mũ bảo hiểm xe máy lưỡi trai); 01 túi niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định của V4 - ký hiệu V562A6.24 (bên trong có con dao sắc nhọn bằng kim loại): Không còn giá trị sử dụng hoặc là công cụ thực hiện tội phạm nên tịch thu tiêu hủy.

        • 01 Căn cước công dân (CCCD) số [...] mang tên Hồ Văn D; 01 CCCD số [...] mang tên Hồ Văn L; 01 CCCD số [...] mang tên Hồ Văn T5; 01 CCCD số [...] mang tên Hoàng Văn T là giấy tờ tùy thân của các bị cáo nên trả lại cho các bị cáo.

        • 01 xe máy Wave sơn màu xanh, BKS: 18Z7 - 9800 có số khung: VTMPCHI02YT028940, số máy: 1P52FMH - 310298984 là tài sản của bị hại nên trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại.

        • 01 xe máy Yamaha Exciter màu xanh, BKS: 73G1 - 358.98 có số khung: RLCUG1210NY086401, số máy: G3M5E - 171363 của Hồ Văn L là phương tiện mà bị cáo đã dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

        • 01 Giấy đăng ký xe máy số 023116 (loại: Honda Airblade, BKS: 73G1 - 269.39 mang tên Hồ Văn X) cho Hồ Văn X; 01 xe máy Honda Airblade màu đen, BKS: 73G1 - 269.39 của Hồ Văn D; 01 xe máy Yamaha Exciter màu đỏ, BKS: 73E1 - 269.59 của Hồ P: Là tài sản của các bị cáo không trực tiếp sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho các bị cáo X, P.

        • Đối với điện thoại di động thu giữ của Hồ Văn D; Hồ Phên; Hồ Văn T5; Hồ Văn L; Hồ Văn X; Hoàng M là phương tiện mà các bị cáo đã dùng để gọi, thông báo, giúp sức, hỗ trợ cho Hoàng Văn T thực hiện hành vi bỏ trốn nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

        • 01 điện thoại di động thu giữ của Cháng Mai N2 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

      6. Án phí hình sự sơ thẩm: Các Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Hoàng Văn T phải nộp theo quy định của pháp luật.

      Vì các lẽ trên,

      QUYẾT ĐỊNH:

      1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Giết người”

        Tuyên bố các bị cáo Hồ Văn D, Hồ Văn L, Hồ P, Hồ Văn X, Hoàng M và Hồ Văn T5 về phạm tội “Che giấu tội phạm” ;

        Tuyên bố các bị cáo: Lù Văn Đ, Cháng Mai N2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”;

        Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 91; 101 BLHS: Xử phạt Hoàng Văn T 16 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/10/2024.

        Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 389; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 BLHS: Xử phạt Hồ Văn D; Hồ Văn L mỗi bị cáo 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/10/2024.

        Căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 389; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 BLHS: Xử phạt Hồ Phên, Hồ Văn X, Hoàng M và Hồ Văn T5 mỗi bị cáo 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/10/2024.

        Căn cứ khoản 1, Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 BLHS: Xử phạt Lù Văn Đ, Cháng Mai N2 mỗi bị cáo 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05/3/2025). Các bị cáo đều đã bị tạm giữ từ ngày 08/10/2024 đến ngày 17/10/2024 .

        Giao bị cáo Lù Văn Đ cho UBND xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

        Giao bị cáo Cháng Mai N2 cho UBND xã xã B, huyện Y, tỉnh Hà Giang.giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

        Trong trường hợp các bị cáo chuyển nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

        Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

      2. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS, Điều 491; 586 BLDS : Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và đại diện của bị cáo phải bồi thường cho đại diện của bị hại là ông Thèn Văn L2 và bà Thèn Thị B2 số tiền 397.000.000 đồng (bị cáo đã bồi thường 103.500.000đ, còn phải bồi thường 293.500.000₫). Trường hợp Hoàng Văn T không có tài sản để bồi thường thì ông Hoàng Văn Q và bà Hồ Thị N là bố, mẹ có trách nhiệm bồi thường theo quy định tại Điều 586 của BLDS.

      3. Vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS tuyên:

        • Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc dép chân phải; 01 đôi dép; 02 giỏ nhựa màu trắng, màu đen; 07 mảnh nhựa màu đen (kiểu mũ bảo hiểm xe máy lưỡi trai); 01 túi niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định của V4 - ký hiệu V562A6.24 (bên trong có con dao sắc nhọn bằng kim loại).

        • Trả lại cho: Hồ Văn D 01 Căn cước công dân (CCCD) số [...] mang tên Hồ Văn D; Hồ Văn L 01 CCCD số [...] mang tên Hồ Văn L; Hồ Văn T5 01 CCCD số [...] mang tên Hồ Văn T5; Hoàng Văn T 01 CCCD số [...] mang tên Hoàng Văn T.

        • Trả lại cho người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Thèn Văn L2 và bà Thèn Thị B2 01 xe máy Wave sơn màu xanh, BKS: 18Z7 - 9800 có số khung: VTMPCHI02YT028940, số máy: 1P52FMH – 310298984.

        • Trả lại: 01 Giấy đăng ký xe máy số 023116 (loại: Honda Airblade, BKS: 73G1 - 269.39 mang tên Hồ Văn X) cho Hồ Văn X; 01 xe máy Honda Airblade màu đen, BKS: 73G1 - 269.39 cho Hồ Văn D; 01 xe máy Yamaha Exciter màu đỏ, BKS: 73E1 - 269.59 cho Hồ P:

        • Trả lại cho Cháng Mai N2 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO vỏ màu xanh.

        • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:

          • 01 xe máy Yamaha Exciter màu xanh, BKS: 73G1 - 358.98 có số khung: RLCUG1210NY086401, số máy: G3M5E - 171363 của Hồ Văn L;

          • 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu giữ của Hồ Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Hồ Phên; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu giữ của Hồ Văn T5; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Hồ Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Hồ Văn X; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme thu giữ của Hoàng M.

          (Vật chứng đang được quản lý tại kho vật chứng của Cục thi hành án tỉnh Nam Định có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 25/33 ngày 31-12-2024 giữa Công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định).

        • Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Hoàng Văn T Hồ Văn D, Hồ Văn L, Hồ P, Hồ Văn X, Hoàng M và Hồ Văn Thông Lù Văn Đ, Cháng Mai N2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng .

          Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Hoàng Văn T phải nộp 14.675.000 đồng.

          Các Bị cáo, người đại diện, người bào chữa của bị cáo Hoàng Văn T, đại diện của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

          Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền bồi thường, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

          Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

      Nơi nhận:

      • - Bị cáo;

      • - Đại diện hợp pháp của bị hại;

      • - TAND+VKSND cấp cao tại Hà Nội;

      • - Công an tỉnh Nam Định;

      • - VKSND tỉnh Nam Định;

      • - Trại tạm giam Công an tỉnh;

      • - Cục THADS tỉnh Nam Định;

      • - Lưu hồ sơ vụ án + VT

      HỘI THẨM NHÂN DÂN

      THẨM PHÁN

      THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

       

      Mai Thị Minh Hồng

      Chu Thái Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về vụ án hình sự (giết người, che giấu tội phạm, gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 26/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Giết người, Che giấu tội phạm, Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger