|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HSST
Ngày: 05-03-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Thị Lệ Thu;
- Bà Nguyễn Thị Xuân Trinh.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại phòng Xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 220/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 23/01/2025 đối với bị cáo:
Võ Văn H (tên gọi khác: Không), giới tính: N; sinh năm 1994 tại tỉnh Hậu Giang;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Nơi ở: Không có nơi cư trú rõ ràng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 04/12; là con ông Võ Văn G và bà Phạm Thị Thanh M; bị cáo có vợ là Hà Mỹ L và 01 người con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2024. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bị hại: Ông Kim Dong I, sinh năm 1988; Địa chỉ: Căn hộ S Chung cư Q, Số D đường Đ, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt
Có bà Bùi Thị An K, sinh năm 1993 là người phiên dịch (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Đoàn Thị Hương G1, sinh năm: 1965; Địa chỉ: B B, Phường B, Quận B, TP. Hồ Chí Minh. Vắng mặt
- Ông Võ Phong C, sinh năm 1988; Địa chỉ: C Hòa Bình, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
- Ông Trần Trung S, sinh năm 2003; Địa chỉ: 2, K, H, thành phố T. Vắng mặt
- Bà Đào Tiểu M1, sinh năm 2000; Địa chỉ: A P, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
- Ông Trần Quốc Q, sinh năm 1999; Địa chỉ: 8 H, Phường A, quận T, Tp .. Vắng mặt
- Ông Đặng Văn V, sinh năm: 1999; Địa chỉ: A T, Phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt
- Cửa hàng T; địa chỉ: Số A T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt
- Cửa hàng T; địa chỉ: Số B B, Phường A, quận T Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt
- Cửa hàng Đ; địa chỉ: C L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt
- Cửa hàng Co.op food; địa chỉ: A N, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện ủy quyền của cửa hàng bà Nguyễn Thị Tường V1 – Nhân viên. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 31/3/2024, Võ Văn H chạy xe ôm trên địa bàn Quận A, đến trước địa chỉ số A N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, H nhặt được 01 ví, bên trong có 01 thẻ ATM ngân hàng S1, 01 thẻ tín dụng ngân hàng Shinhan số 4696-7300-1223-2454, 01 thẻ tín dụng ngân hàng I1 (viết tắt IBK) số 4052-0325-4587-6346, tất cả mang tên KIM DONG IK và khoảng 800.000 đồng. H cất giữ tiền và các thẻ trên để sử dụng. H biết thẻ ATM ngân hàng S1 không sử dụng được vì phải có mật khẩu nên H thử sử dụng qua 02 thẻ tín dụng. H dùng 02 thẻ tín dụng để mua các đồ vật sinh hoạt như xà bông, dao cạo râu và bia các loại tại các cửa hàng tiện lợi như M, E, Circle K, B' SMART, Coop Food. Sau đó mang 32 thùng bia đến tiệm T1, địa chỉ B B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh bán khoảng 22 thùng, được khoảng 7.000.000 đồng, số bia còn lại H sử dụng hết.
H thấy 02 thẻ tín dụng đều sử dụng được nên tiếp tục mua 03 điện thoại, cụ thể:
Khoảng 08 giờ ngày 31/3/2024, H đến cửa hàng T, địa chỉ B B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, dùng thẻ tín dụng ngân hàng S1 mua 01 điện thoại hiệu Iphone 15 Pro Max và 01 Adapter sạc, giá 31.458.000 đồng. Nhân viên cửa hàng giao dịch với H là ông Trần Quốc Q. Sau đó, H đem đến cửa hàng Đ1, địa chỉ C Hòa Bình, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, gặp ông Võ Phong C, bán với giá 25.000.000 đồng.
Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, H đến cửa hàng Đ, địa chỉ C L, phường B, B, Thành phố Hồ Chí Minh, dùng thẻ tín dụng ngân hàng I2 mua 01 điện thoại hiệu Iphone 15 Pro Max và 01 Adapter sạc, giá 31.458.000 đồng. Nhân viên cửa hàng giao dịch với H là bà Đào Tiểu M1. Sau đó, H đem đến cửa hàng điện thoại P, bán cho ông Võ Phong C với giá 25.000.000 đồng. Sau khi bán 02 điện thoại vừa mua, H có 50.000.000 đồng.
Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, H đến cửa hàng T, địa chỉ A T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, dùng thẻ tín dụng ngân hàng I2 mua 01 điện thoại hiệu Iphone 15 Pro Max, 01 Adapter sạc và 01 miếng dán kính cường lực, giá 32.661.000 đồng. Tuy nhiên, do số dư trong thẻ tín dụng ngân hàng I2 không đủ nên H đưa cho nhân viên cửa hàng thêm thẻ tín dụng ngân hàng S1, nhân viên nhập số tiền thanh toán là 20.000.000 đồng thì thực hiện thành công, số tiền 12.661.000 đồng còn lại, H trả tiền mặt. Nhân viên cửa hàng giao dịch với H là ông Đặng Văn V. Sau đó, H đem đến cửa hàng điện thoại P, bán cho ông Võ Phong C với giá 25.000.000 đồng.
Tổng số tiền H bán 03 điện thoại được 75.000.000 đồng, trừ đi số tiền 12.661.000 đồng thì H còn 62.339.000 đồng. Số tiền có được từ việc bán các thùng bia và 03 điện thoại, H dùng trả nợ và tiêu xài cá nhân. Sau khi sử dụng hết số tiền trong 02 thẻ ngân hàng, H vứt bỏ thẻ (không nhớ rõ nơi vứt, không thu hồi được).
Ông Võ Phong C khai khi mua 03 điện thoại, không biết tài sản do H phạm tội mà có. H cung cấp được hóa đơn mua hàng, tình trạng máy mới. Ông C hỏi nguồn gốc điện thoại, H nói của anh rể bên nước ngoài cho người trong gia đình để sử dụng. Ông C đã bán 03 điện thoại cho khách vãng lai không rõ lai lịch.
Bà Đoàn Thị Hương G1, chủ tiệm T1, khai không mua bia do Võ Văn H bán, không biết H là ai.
Ngày 31/3/2024, ông Kim Dong I (quốc tịch Hàn Quốc, nơi cư trú: S2.20.03 chung cư Q1, địa chỉ số D Đ, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) phát hiện thẻ tín dụng ngân hàng S1 và ngân hàng I2 của ông bị thanh toán tổng số tiền 97.109.999 đồng không rõ nguyên nhân. Ngày 02/4/2024, ông Kim Dong I đến Công an phường P, Quận G trình báo.
Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 mời Võ Văn H về trụ sở làm việc. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2, H khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ:
- - Thu giữ của ông Đặng Văn V:
- + 01 biên nhận thanh toán kiêm phiếu giao hàng tại cửa hàng T di động 1036 T, B, B, Thành phố Hồ Chí Minh, khách hàng Vo Van H1 - 0708177271, mã đơn hàng 00333SO24030223122.
- + 01 hóa đơn để đối chiếu với sao kê ngân hàng B, tên Đ2.com_333, địa chỉ: A T, B, B. Thẻ visa thanh toán có số đuôi 2545 tên KIM DONG IK, số hóa đơn 002432 ngày 31/3/2024.
- - Thu giữ của bà Đào Tiểu M1:
- + 01 biên nhận thu tiền tại cửa hàng Điện máy xanh, số C L, B, B, Thành phố Hồ Chí Minh, khách hàng P, số điện thoại 0909.849.xxx, mã phiếu 12964SO24030062930.
- + 01 hóa đơn để đối chiếu với sao kê ngân hàng B, tên Đ3.com_12964, địa chỉ: C L, B, B, Thành phố Hồ Chí Minh. Thẻ visa thanh toán có số đuôi 6346 tên KIM DONG IK, số hóa đơn 001104 ngày 31/3/2024.
- - Thu giữ của ông Trần Quốc Q:
- + 01 biên nhận thanh toán kiêm phiếu giao hàng tại cửa hàng T di động B B, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, khách hàng Anh P - 0909849552, mã đơn hàng 12275SO24030114506.
- + 01 hóa đơn để đối chiếu với sao kê ngân hàng B, tên đại lý C1, địa chỉ: 205 B, Phường A, quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh. Thẻ visa thanh toán có số đuôi 2545 tên KIM DONG IK, Số hóa đơn 001673 ngày 31/03/25024.
- - Thu giữ của ông Trần Trung S:
- + 01 phiếu tính tiền tại cửa hàng C2 số A N, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Thu giữ của Võ Văn H:
- + 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro + 01 quần dài màu đen + 01 đôi dép màu đen';
- + 01 nón bảo hiểm màu trắng xanh có logo GRAB
- Là trang phục H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
- + 01 xe mô tô hiệu Vision biển số 95H1-101.57, số khung: RLHJF3313DY366647, số máy: JF33E0444473, do H đứng tên chủ xe, H sử dụng khi đi mua và bán các tài sản.
Về dân sự: Tại cơ quan điều tra bị hại là ông Kim Dong I yêu cầu được bồi thường số tiền 97.109.999 đồng do bị cáo H chiếm đoạt trong thẻ tài khoản của ông, tại phiên Tòa ông Kim Dong I yêu cầu bị cáo H bồi thường lại cho ông số tiền 97.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số 04/CT-VKS-Q7 ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố Võ Văn H về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b, đ Khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Võ Văn H từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định:
Vào ngày 31/03/2024 Võ Văn H sau khi vô tình nhặt được chiếc ví của ông Kim Dong I bên trong có 01 thẻ ATM Ngân hàng S1, 01 thẻ tín dụng ngân hàng S1 số 4696-7300-1223-2454, 01 thẻ tín dụng ngân hàng I1 (viết tắt IBK) số 4052-0325-4587-6346 do ông Kim Dong I là chủ tài khoản và khoảng 800.000 đồng. Bị cáo Võ Văn H đã có ý định chiếm đoạt tiền có trong tài khoản thẻ. Từ khoảng 03 giờ đến 07 giờ ngày 31/03/2024 bị cáo H đã đến các cửa hàng tiện lợi như M, E, Circle K, B"smart, Coop F mua hàng rồi tự ý dùng 02 thẻ tín dụng do ông Kim Dong I đứng tên chủ tài khoản để thanh toán tiền mua hàng.
Đến khoảng 08 giờ ngày 31/3/2024, H đến cửa hàng T, địa chỉ B B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, dùng thẻ tín dụng ngân hàng S1 mua 01 điện thoại hiệu Iphone 15 Pro Max và 01 Adapter sạc, giá 31.458.000 đồng.
Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, H tiếp tục đến cửa hàng Đ, địa chỉ C L, phường B, B, Thành phố Hồ Chí Minh, H dùng thẻ tín dụng ngân hàng IBK mua 01 điện thoại hiệu Iphone 15 Pro Max và 01 Adapter sạc, giá 31.458.000 đồng.
Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, cùng với thủ đoạn nêu trên H lại tiếp tục đến cửa hàng T, địa chỉ A T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, dùng thẻ tín dụng ngân hàng I2 mua 01 điện thoại hiệu Iphone 15 Pro Max, 01 Adapter sạc và 01 miếng dán kính cường lực, giá 32.661.000 đồng. Tại đây bị cáo H chỉ thanh toán được 20.000.000 đồng còn lại trong thẻ tín dụng.
Tổng cộng số tiền H chiếm đoạt trong thẻ tín dụng của ông Kim Dong I để mua hàng là 97.109.999 đồng.
Tất cả 03 chiếc điện thoại H mua đều được H đem đến cửa hàng điện thoại P, bán cho ông Võ Phong C với giá 25.000.000 đồng/1 chiếc.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Với hành vi như đã nêu trên bị cáo Võ Văn H đã phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp qui định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo biết rõ việc sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là phạm tội, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Võ Văn H không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh KIM DONG IK yêu cầu bị cáo Võ Văn H bồi thường số tiền 97.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận và buộc bị cáo phải bồi thường khoản tiền này cho người bị hại.
[6] Xử lý vật chứng:
- + 01 biên nhận thanh toán kiêm phiếu giao hàng tại cửa hàng T di động 1036 T, B, B, Thành phố Hồ Chí Minh, khách hàng Vo Van H1 - 0708177271, mã đơn hàng 00333SO24030223122.
- + 01 hóa đơn để đối chiếu với sao kê ngân hàng B, tên Đ2.com_333, địa chỉ: A T, B, B. Thẻ visa thanh toán có số đuôi 2545 tên KIM DONG IK, số hóa đơn 002432 ngày 31/3/2024.
- + 01 biên nhận thu tiền tại cửa hàng Đ, số C L, B, B, Thành phố Hồ Chí Minh, khách hàng P, số điện thoại 0909.849.xxx, mã phiếu 12964SO24030062930.
- + 01 hóa đơn để đối chiếu với sao kê ngân hàng B, tên Đ3.com_12964, địa chỉ: C L, B, B, Thành phố Hồ Chí Minh. Thẻ visa thanh toán có số đuôi 6346 tên KIM DONG IK, số hóa đơn 001104 ngày 31/3/2024.
- + 01 biên nhận thanh toán kiêm phiếu giao hàng tại cửa hàng T di động B B, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, khách hàng Anh P - 0909849552, mã đơn hàng 12275SO24030114506.
- + 01 hóa đơn để đối chiếu với sao kê ngân hàng B, tên đại lý C1, địa chi: 205 B, Phường A, quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh. Thẻ visa thanh toán có số đuôi 2545 tên KIM DONG IK, Số hóa đơn 001673 ngày 31/03/25024.
- + 01 phiếu tính tiền tại cửa hàng C2 số A N, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tất cả là tài liệu chứng cứ nên tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án
- + 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro + 01 quần dài màu đen + 01 đôi dép màu đen'; 01 nón bảo hiểm màu trắng xanh có logo GRAB là trang phục H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
- + 01 xe mô tô hiệu Vision biển số 95H1-101.57, số khung: RLHJF3313DY366647, số máy: JF33E0444473, do H đứng tên chủ xe, H sử dụng khi đi mua và bán các tài sản nên tịch thu sung quỹ Nhà Nước.
- [7] Bị cáo phải nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Võ Văn H phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Võ Văn H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:
- Tiếp tục lưu trữ vào hồ sơ vụ án:
- + 01 biên nhận thanh toán kiêm phiếu giao hàng tại cửa hàng T di động 1036 T, B, B, Thành phố Hồ Chí Minh, khách hàng Vo Van H1 - 0708177271, mã đơn hàng 00333SO24030223122; 01 hóa đơn để đối chiếu với sao kê ngân hàng B, tên Đ2.com 333, địa chỉ: A T, B, B. Thẻ visa thanh toán có số đuôi 2545 tên KIM DONG IK, số hóa đơn 002432 ngày 31/3/2024;
- + 01 biên nhận thu tiền tại cửa hàng Điện máy xanh, số C L, B, B, Thành phố Hồ Chí Minh, khách hàng P, số điện thoại 0909.849.xxx, mã phiếu 12964SO24030062930; 01 hóa đơn để đối chiếu với sao kê ngân hàng B, tên Đ3.com_12964, địa chỉ: C L, B, B, Thành phố Hồ Chí Minh. Thẻ visa thanh toán có số đuôi 6346 tên KIM DONG IK, số hóa đơn 001104 ngày 31/3/2024;
- + 01 biên nhận thanh toán kiêm phiếu giao hàng tại cửa hàng T di động B B, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, khách hàng Anh P - 0909849552, mã đơn hàng 12275SO24030114506; 01 hóa đơn để đối chiếu với sao kê ngân hàng B, tên đại lý C1, địa chỉ: B B, Phường A, quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh. Thẻ visa thanh toán có số đuôi 2545 tên KIM DONG IK, Số hóa đơn 001673 ngày 31/03/25024.
- + 01 phiếu tính tiền tại cửa hàng C2 số A N, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro + 01 quần dài màu đen + 01 đôi dép màu đen'; 01 nón bảo hiểm màu trắng xanh có logo GRAB.
Tịch thu sung quỹ Nhà Nước: 01 xe mô tô hiệu Vision biển số 95H1-101.57, số khung: RLHJF3313DY366647, số máy: JF33E0444473
(Theo Biên bản về việc giao, nhận vật chứng tài sản số 021 ngày 18/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Buộc bị cáo Võ Văn H bồi thường cho ông KIM D IK số tiền 97.000.000 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Cơ quan Thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án về khoản tiền bị cáo phải bồi thường nếu bị cáo chưa thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành.
- Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 4.850.000 đồng (bốn triệu, tám trăm năm mươi nghìn đồng). Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án.
|
Nơi nhận:
TAND QUẬN 7 YMQ050325.TL.QDBA 684 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thu Trang |
Bản án số 26/2025/HSST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 26/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 03 năm tù
