Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠNH PHÚ

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/DS-ST.

Ngày: 05-03-2025.

V/v tranh chấp “hợp đồng góp hụi"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Sương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Sơn
  2. Ông Nguyễn Văn Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Xuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Trong ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 600/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1988.
  2. Địa chỉ: 1 ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre, có đơn xin vắng mặt.

  3. Bị đơn: Bà Đinh Thị L1, sinh năm 1988.
  4. Địa chỉ: 2 ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng tại tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị L trình bày:

Bà có tham gia chơi hụi do bà Đinh Thị L1 làm chủ hụi. Cách thức chơi hụi: Bà và các hụi viên khác tham gia chơi hụi, mỗi dây hụi bà Đinh Thị L1 lập một nhóm trên zalo, bao gồm các thành viên có tham gia chơi hụi, bà L1 có lập bảng “CHI TIẾT DÂY HỤI” gửi trên nhóm chat zalo, bà L1 cập nhật danh sách hụi viên, hàng ngày hoặc mỗi ngày khui hụi bà L1 cập nhật số tiền hốt hụi và người hốt hụi vào danh sách “CHI TIẾT DÂY HỤI” của mỗi dây hụi cụ thể. Hụi viên nào hốt hụi thì bà L1 sẽ đánh dấu “X” vào cột S/C của danh sách “CHI TIẾT DÂY HỤI”, hụi viên nào chưa hốt hụi thì bà L1 đánh dấu “V” vào cột S/C của danh sách “CHI TIẾT DÂY HỤI”. Bà tham gia các dây hụi do bà Đinh Thị L1 làm chủ hụi cụ thể như sau:

  • Dây hụi thứ nhất, ngày mở hụi 04 tháng 7 năm 2024 dương lịch, dây hụi 4.000.000 đồng, hụi khui và góp 3 ngày, cách 3 ngày bà L1 sẽ khui hụi 1 lần và số tiền góp hụi mỗi lần là 4.000.000 đồng, dây hụi này có 53 phần. Dây hụi này bà tham gia 3 phần, theo bảng “chi tiết dây hụi” là số thứ tự 49. “Huỳnh Lánh – 1”; số thứ tự 51 “Huỳnh Lánh -2”; số thứ tự 52 “Huỳnh Lánh – 3”. Dây hụi này bà đóng được 32 kỳ. Tổng số tiền bà đã đóng cho bà L1 ở dây hụi này là 280.000.000 đồng. Bà đóng hụi cho bà L1 đến 05 tháng 10 năm 2024, sau đó thì bà L1 tuyên bố vỡ hụi nên bà không đóng nữa.
  • Dây hụi thứ hai, ngày mở hụi ngày 13 tháng 9 năm 2024 dương lịch, dây hụi 2.000.000 đồng, hụi khui và góp hàng ngày, mỗi ngày bà L1 đều có khui và góp hụi, dây hụi này có 49 người tham gia. Dây hụi này bà tham gia 02 phần, theo bảng chi tiết dây hụi là số thứ tự 46. “Huỳnh Lánh – 1”; số thứ tự 47 “Huỳnh Lánh -2”; dây hụi này bà đã đóng được 23 kỳ. Tổng số tiền bà đã đóng cho bà L1 ở dây hụi này là 72.000.000 đồng. Bà đóng hụi cho bà L1 đến 05 tháng 10 năm 2024 thì bà L1 tuyên bố vỡ hụi nên bà không đóng nữa.
  • Dây hụi thứ ba, ngày mở 21/9/2024 dương lịch, dây hụi 3.000.000 đồng, hụi khui và góp 3 ngày, cách 3 ngày bà L1 sẽ khui hụi 1 lần và số tiền góp hụi mỗi lần khui là 3.000.000 đồng, dây hụi này có 30 người tham gia. Dây hụi này bà tham gia 1 phần, theo bảng chi tiết dây hụi là số thứ tự 28. “Huỳnh Lánh”; dây hụi này bà đã đóng được 5 kỳ. Tổng số tiền bà đã đóng cho bà L1 ở dây hụi này là 12.300.000 đồng. Bà đóng hụi cho bà L1 đến 03 tháng 10 năm 2024, sau đó bà L1 tuyên bố vỡ hụi nên bà không đóng nữa.
  • Dây hụi thứ tư, ngày mở 21/9/2024 dương lịch, dây hụi 2.000.000 đồng, hụi khui và góp 3 ngày, cách 3 ngày bà L1 sẽ khui hụi 1 lần và số tiền góp hụi mỗi lần khui là 2.000.000 đồng, dây hụi này có 31 người tham gia. Dây hụi này bà tham gia 1 phần, theo bảng chi tiết dây hụi là số thứ tự 28. “HUỲNH LÁNH”; dây hụi này bà đã đóng được 04 kỳ. Tổng số tiền bà đã đóng cho bà L1 ở dây hụi này là 8.000.000 đồng. Bà đóng hụi cho bà L1 đến 03 tháng 10 năm 2024, sau đó bà L1 tuyên bố vỡ hụi nên bà không đóng nữa.

Ngày 06 tháng 10 năm 2024 bà Đinh Thị L1 tuyên bố vỡ hụi nên bà không tiếp tục đóng hụi cho bà L1 nữa.

Tổng số tiền bà đã đóng cho bà L1 là 372.300.000 đồng.

Ngày 07 tháng 10 năm 2024, bà L1 đã giao cho bà số tiền 57.000.000 đồng.

Hiện tại bà L1 còn nợ bà số tiền hụi là 315.300.000 đồng (ba trăm mười lăm triệu ba trăm nghìn đồng).

Ngày 07 tháng 11 năm 2024 bà Đinh Thị L1 có viết giấy xác nhận nợ tiền, tại Ủy ban nhân dân xã G, được Ủy ban nhân dân xã G chứng thực ngày 07 tháng 11 năm 2024, bà Đinh Thị L1 thoả thuận xác nhận nợ tiền có nội dung như sau: qua đối chiếu xác nhận hai bên thống nhất xác định tính đến ngày 10 tháng 10 năm 2024 bà Đinh Thị L1 nợ bà tổng số tiền 315.200.000 đồng (ba trăm mười lăm triệu hai trăm nghìn đồng). Nay bà khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Thạnh Phú xem xét, giải quyết buộc bà Đinh Thị L1 có nghĩa vụ trả cho bà số tiền hụi là 315.000.000 đồng, bà không yêu cầu tính lãi. Nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn bà Đinh Thị L1 vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng tại Tòa án nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị L yêu cầu bị đơn bà Đinh Thị L1 tra tiền hụi còn nợ nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng góp hụi theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn bà Đinh Thị L1 cư trú tại ấp G, xã G, huyện T, tỉnh Bến Tre, căn cư điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Huỳnh Thị L là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Huỳnh Thị L. Đối với bị đơn bà Đinh Thị L1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng trình tự thủ tục quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời, bà Đinh Thị L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bà Đinh Thị L1.

[3] Về nội dung tranh chấp: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị L yêu cầu bị đơn bà Đinh Thị L1 có nghĩa vụ trả số tiền hụi còn nợ là 315.000.000 đồng, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn cung cấp tài liệu, chứng cứ là văn bản có tiêu đề “Giấy xác nhận nợ tiền” ngày 07 tháng 11 năm 2024 (bản chính) có nội dung thể hiện: qua đối chiếu xác nhận hai bên thống nhất xác định tính đến ngày 10 tháng 10 năm 2024 bên B (bà Đinh Thị L1) nợ bên A( bà Huỳnh Thị L) tổng số tiền 315.200.000 đồng (ba trăm mười lăm triệu hai trăm nghìn đồng), bà Đinh Thị L1 có ký tên tại mục bên B trong giấy xác nhận nợ tiền ngày 07 tháng 11 năm 2024. Giấy xác nhận nợ tiền ngày 07 tháng 11 năm 2024 được Ủy ban nhân dân xã G chứng thực theo số chứng thực 521 quyển số 01/2024-SCT/CK, ĐC ngày 07 tháng 11 năm 2024.

Đối với bà Đinh Thị L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần và đã được tống đạt các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp nhưng không có ý kiến trình bày và vắng mặt không có lý do trong tất cả các lần Tòa án triệu tập, xem như bà Đinh Thị L1 đã tự từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án.

[5] Trên cơ sở xem xét yêu cầu khởi kiện và các tài liệu của nguyên đơn cung cấp, việc không phản đối của bị đơn bà Đinh Thị L1, căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án công nhận tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp làm cơ sở xác định giữa nguyên đơn bà Huỳnh Thị L với bị đơn bà Đinh Thị L1 có xác lập, thực hiệp hợp đồng góp hụi. Qua đó, thể hiện bà Đinh Thị L1 còn nợ bà Huỳnh Thị L số tiền 315.000.000 đồng. Hợp đồng góp hụi giữa bà Huỳnh Thị L với bà Đinh Thị L1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng không bên nào bị lừa dối hoặc bị ép buộc và không vi phạm quy định tại các Điều 116, 117, 119, 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên được xem là hợp đồng hợp pháp. Do vậy, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên nên các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Đinh Thị L1 đã vi phạm hợp đồng mà hai bên đã thoả thuận làm phát sinh tranh chấp. Lẽ đó việc bà Huỳnh Thị L yêu cầu bà Đinh Thị L1 trả số tiền hụi còn nợ là 315.000.000 đồng là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Do nguyên đơn không yêu tính lãi nên không xem xét.

[7] Do yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị L được chấp nhận nên bà Đinh Thị L1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 15.750.000 đồng. Bà Huỳnh Thị L được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.

Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị L đối với bị đơn bà Đinh Thị L1. Buộc bà Đinh Thị L1 có nghĩa vụ trả cho bà Huỳnh Thị L số tiền hụi còn nợ là 315.000.000 đồng (Ba trăm mười lăm triệu đồng). Bà Huỳnh Thị L không yêu cầu tính lãi nên không xem xét.
  2. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
    1. Bà Đinh Thị L1 phải nộp 15.750.000 đồng (mười lăm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
    2. Bà Huỳnh Thị L được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.870.000 đồng (bảy triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006097 ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
  4. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Thạnh Phú;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre;
  • - Chi cục THADS huyện Thạnh Phú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Như Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/DS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 26/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị L tranh chấp hụi với Đinh Thị L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger