Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HS-ST

Ngày 05 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Việt Hùng;

Ông Bùi Đắc Nghĩa.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Giàu - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2025/TLST - HS ngày tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2020/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Huỳnh Thị M, sinh năm 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh; Căn cước công dân số: [...]; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn M1 (đã chết) và bà Phạm Thị Y; chồng: Hồ Hậu G, sinh năm 1974; con: Có 01 người sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/11/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Phan Thành T, sinh năm 1956; nơi cư trú: Tổ 1, ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 02/4/2024, Huỳnh Thị M đón xe buýt đi từ huyện C, thành phố Hồ Chí Minh đi đến trạm xe buýt thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Khi M đi đến gần khu vực chợ T2 thì gặp ông Phan Thành T là người chạy xem ôm đến hỏi M đi đâu để ông T chở đi thì M nói đi tìm bạn và tìm kiếm việc làm. Lúc này, ông T nói với M là để ông T chở M đi tìm việc làm tại các quán nhậu thì M đồng ý. Ông T điều khiển xe mô tô biển số 70K1-094.18, loại xe mô tô Yamaha Sirius màu đen trắng chở M lên khu vực xã T, huyện T để tìm việc nhưng không tìm được việc nên ông T chở M quay về khu vực xã T để cho M vào quán cà phê để nghỉ ngơi và chờ ông Trương T1 việc cho.

Đến khoản 14 giờ cùng ngày, ông Trương Q lại quán cà phê nói trên để thông báo với M là không tìm được chổ làm cho M. Lúc này, M kêu ông T chở M đi tìm bạn nhà ở xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì ông T đồng ý, khi ông T chở M đến đoạn đường đất đỏ trong lô cao su thuộc ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, do thấy đoạn đường vắng nên ông T điều khiển xe mô tô quay ra đường chính thì M nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của ông T là xe mô tô nêu trên nên M cố tình làm rớt chiếc dép xuống đường để ông Trương ngừng xe lại để nhặt lên và M nói với ông Trương C xe yếu nên M nói để M điều khiển xe chở ông Trương thì ông T đồng ý. Khi M điều khiển xe mô tô chở ông T thì M cố ý làm rơi bình nước đang treo trên ba ga xe của ông T xuống đường rồi chạy xe qua khỏi 01 đoạn khoảng 20m thì M tắt máy xe kêu ông Trương xuống xe đi bộ nhặt bình bước, ông Trương thấy M tắt máy xe nên không nghi ngờ nên ông Trương Đ bộ lại nhặt bình nước lên. M thấy ông T đang nhặt bình nước lên thì M nổ máy xe bỏ chạy, M điều khiển xe mô tô nói trên về hướng cầu S qua tỉnh Bình Phước. Sau đó, M điều khiển qua huyện Đ, tỉnh Long An rồi bán xe mô tô cướp được của ông T cho một người đàn ông thu mua ve chai trên đường (không rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 1.000.000 đồng và tiền bán xe M đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 04/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T truy tìm và phát hiện M tại xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh nên mời M về làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh Huỳnh Thị M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

- Vật chứng thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen trắng, biển số 70K1-094.18; 01 áo khoác thun màu hồng, tay dài có mũ trùm lên đầu; 01 cái quần thun lửng màu cam; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, số Imei 1: 355870066726843/01.

- Kết luận về việc định giá của hội đồng định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG ngày 18/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện T, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen trắng, biển số 70K1-094.18, số máy: 5C64-666448, số khung: S5C640BY-666442 tại thời điểm định giá ngày 02/4/2024 có giá trị 5.667.000 đồng.

- Kê biên tài sản: Qua xác minh thể hiện Huỳnh Thị M không có tài sản, nên không tiến hành kê biên.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Huỳnh Thị M chưa bồi thường cho bị hại Phan Thành Trương .

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thị M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số: 25/CT-VKSTC, ngày 06 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị M về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị M từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Trách nhiệm dân sự: Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 5.667.000 đồng.

Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo M nói lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Để có tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 02/4/2024, tại khu vực ấp D, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Huỳnh Thị M đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản của ông Phan Thành T là 01 chiếc xe mô tô qua định giá có giá trị 5.667.000 đồng thì bị phát hiện.

Xét thấy hành vi của bị cáo M thực hiện cướp giật xe mô tô của ông Phan Thành T trị giá là 5.667.000 đồng đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự như luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo M là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự, trị an xã hội tại địa phương, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.

[4] Khi quyết định hình phạt cần xem xét về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

[4.1] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự .

[4.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Hành vi của bị cáo M cần xử phạt với mức án tù và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[6] Về xử lý vật chứng:

01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen trắng, biển số 70K1-094.18 (bản phô tô) của ông Phan Thành T, nên trả lại cho ông Trương L phù hợp.

01 áo khoác thun màu hồng, tay dài có mũ trùm lên đầu; 01 cái quần thun lửng màu cam của bị cáo M không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, số Imei 1: 355870066726843/01 của bị cáo M không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo M là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo M có trách nhiệm bồi thường cho bị hại giá trị xe mô tô đã cướp giật với số tiền là 5.667.000 đồng.

[8] Bị cáo Huỳnh Thị M phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2024.

2. Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

2.1. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác thun màu hồng, tay dài có mũ trùm lên đầu; 01 cái quần thun lửng màu cam.

Trả lại cho bị cáo Huỳnh Thị M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh, số Imei 1: 355870066726843/01.

Trả lại cho ông Phan Thành T 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen trắng, biển số 70K1-094.18 (bản phô tô).

(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/3/2025).

2.2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Huỳnh Thị M có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại ông Phan Thành T số tiền 5.667.000 (năm triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng.

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Huỳnh Thị M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng bị cáo Huỳnh Thị M phải chịu 500.000 (năm trăm nghìn) đồng tiền án phí sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo:

Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo Huỳnh Thị M được quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại ông Phan Thành T được quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1) 01;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM (01);
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM (01);
  • - Phòng KTNV-TAND tỉnh Tây Ninh (01);
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh (01);
  • - VKSND huyện Tân Châu (01);
  • - VP. CQCSĐT tỉnh Tây Ninh (01);
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Tây Ninh (01);
  • - Chi cục THADS huyện Tân Châu (01);
  • - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh (01);
  • - Phân trại tạm giam khu vực VIII (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ (01); Lưu tập án (01).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Xuân Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH về hình sự sơ thẩm (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 26/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger