TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày 11-3-2025 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Tấn Đạt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Lý Xuyên
Bà Phan Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hữu Xuân Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Hoàng T – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 08/2025/QĐST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Phan Hiệp H, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1982, tại Quảng Trị.
Nơi thường trú: 2 Chợ C, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Khắc X và bà Châu Thị H1; vợ: bà Bùi Thị Thu T1 (đã ly hôn) và 02 con: lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giam ngày 25/11/2024, hiện đang tạm giam tại Phân Trại tạm giam khu vực C – thuộc Trại tạm giam công an tỉnh K.
Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Vũ Sinh P, sinh năm 1976, nơi cư trú: tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Chánh B, sinh năm 1993; nơi cư trú: thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Bà Châu Thị H1, sinh năm 1952; nơi cư trú: tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
· Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Hữu P1, sinh năm 1982; nơi cư trú: thôn V, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Ông Võ Vĩnh N, sinh năm 1974; nơi cư trú: tổ dân phố T, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 22/11/2024, Phan Hiệp H đi bộ lang thang tại trung tâm thành phố C, khi đi ngang qua cửa hàng M thuộc tổ dân phố L, phường C, thành phố C, H thấy 01 xe mô tô hiệu Honda Blade, màu đen, biển kiểm soát 79Z1 – 484.71 dựng trên lề đường có cắm sẵn chìa khoá, không có người trông coi nên H lấy xe và điều khiển xe chạy về hướng thành phố N theo đường Q. Sau đó, H bán xe mô tô cho ông Nguyễn Chánh B được 1.900.000 đồng tại khu vực trước cửa hàng xe máy Ngọc T2 ở địa chỉ G L, thành phố N. Đến khoảng 16 giờ ngày 24/11/2024, ông Vũ Sinh P đến Công an phường C trình báo sự việc bị mất trộm xe mô tô trên. Sau khi tiếp nhận, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C phối hợp cùng Công an phường C xác minh, làm rõ. Tại đây, H khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản đã thực hiện.
Tại Kết luận định giá tài sản số 154/KL-HĐĐGTS ngày 25/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: Tổng giá trị tài sản của 01 xe mô tô hiệu Honda Blade, màu đen – vàng – đồng, biển số 79Z1 – 484.71, số máy: JA36E0708491, số khung: 3651GY158610 có giá trị 14.400.000 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 20/CT-VKSCR-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Phan Hiệp H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng, xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Hiệp H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Hiệp H từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giam 25/11/2024.
- Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô hiệu Honda Blade, màu đen – vàng – đồng, biển số 79Z1 – 484.71, số máy: JA36E0708491, số khung: 3651GY158610 đã trả lại cho bị hại.
- Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Chánh B đã nhận số tiền 1.900.000 đồng từ bà Châu Thị H1 (mẹ của H) và không có yêu cầu bồi thường thêm.
- Về án phí: buộc bị cáo Phan Hiệp H chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Hiệp H đồng ý như nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố và Bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với sự vắng mặt của bị hại ông Vũ Sinh P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Chánh B, các người làm chứng ông Nguyễn Hữu P1, ông Võ Vĩnh N: những người này đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án, về phần dân sự đã giải quyết xong, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về tội danh:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phan Hiệp H đều thống nhất khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với hiện trường nơi xảy ra vụ án; kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại; các vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng làm rõ tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: vào sáng ngày 22/11/2024, Phan Hiệp H đi bộ lang thang tại trung tâm thành phố C, khi đi ngang qua cửa hàng M (thuộc tổ dân phố L, phường C, thành phố C) phát hiện thấy xe mô tô của ông Vũ Sinh P dựng trên lề đường có cắm sẵn chìa khoá, không có người trông coi nên đã lợi dụng sơ hở của bị hại lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Honda Blade, màu đen – vàng – đồng, biển số 79Z1 – 484.71. Tổng trị giá tài sản là 14.400.000 đồng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà truy tố bị cáo Phan Hiệp H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
hành vi mà bị cáo Phan Hiệp H đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo Phan Hiệp H là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng chỉ vì để thoả mãn nhu cầu của bản thân mà bị cáo H đã lén lút trộm cắp tài sản của người khác. Vì vậy, cần xét xử nghiêm đối với bị cáo và áp dụng hình phạt tương xứng nhằm giáo dục, răn đe, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan Hiệp H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã chủ động tác động đến mẹ của mình là bà Châu Thị H1 khắc phục thiệt hại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Chánh B số tiền 1.900.000 đồng, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Sau khi xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham gia phiên toà là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, để xử phạt bị cáo hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[6] Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho bị hại: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Blade, màu đen – vàng – đồng, biển số 79Z1 – 484.71, số máy: JA36E0708491, số khung: 3651GY158610. Bị hại đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu về phần dân sự của vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Chánh B không yêu cầu thêm về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bà Châu Thị H1 thay bị cáo khắc phục cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Chánh B số tiền 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng). Bà H1 không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền nêu trên nên không xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí:
Bị cáo Phan Hiệp H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Hiệp H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Hiệp H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 25/11/2024.
- Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Về án phí: Buộc bị cáo Phan Hiệp H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Phan Hiệp H 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Tấn Đạt |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Hiệp H phạm tội trộm cắp tài sản
