|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày 28 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
- + Ông Huỳnh Văn Nam.
- + Bà Đặng Thị Mỹ Hường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Phú Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2025/TLST-HS, ngày 14 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Huỳnh Kim C, sinh ngày 02/9/1959 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Số A, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Trọng N (chết) và bà Phạm Thị Đ (chết); vợ là Nguyễn Thị Ánh N1 (chết) và có 04 con.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 09 thang 7 năm 2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, chưa chấp hành án nhưng đã hết thời hiệu thi hành bản án.
Bị hại: Nguyễn Thị Á, sinh năm 1987; trú tại: số A, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Nguyễn Trung T, sinh năm 2006; trú tại: số C, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- - Trần Thị Anh T1, sinh năm 2002; trú tại: số A, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- - Nguyễn Văn L, sinh năm 1979; trú tại: số C, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- - Trần Minh Đ1, sinh năm 1969; trú tại: số A, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- - Huỳnh Ngọc Thúy V, sinh năm 2002; trú tại: số A, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người làm chứng: Bùi Thị Phương T2, Nguyễn Thị N2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhà của Huỳnh Kim C gần nhà Nguyễn Thị N2, giữa gia đình hai bên trong sinh hoạt hàng ngày có mâu thuẫn nên thường xảy ra cự cãi. Khoảng 20 giờ 25 phút, ngày 09 tháng 3 năm 2024, Còn đi bộ ngang nhà bà N2 tại A, tổ A, khóm T, phường M, thành phố L thì bị trượt chân nên giẫm chân ở trước cửa nhà bà N2. Nghĩ rằng Còn qua gây sự nên Nhiều ra nói chuyện dẫn đến cự cãi với C. Lúc này, C thấy Huỳnh Ngọc Thúy V (con của C) đang trên đường về nhà nên cùng với V đi về nhà tại số A, tổ A, khóm T, phường M.
Khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, bà N2 kể cho Trần Thị Anh T1 (cháu bà N2) nghe về việc bà N2 cãi nhau với C thì T1 cùng với Nguyễn Văn L (cậu của T1) đi qua nhà của Còn hỏi chuyện dẫn đến cự cãi với C và V. Khi đó, Trần Minh Đ1, Nguyễn Thị Á (cha, mẹ của T1) và Nguyễn Trung T (con của L) nghe tiếng cự cãi nên chạy qua nhà Còn tìm T1 và L. Khi cự cãi, Đ1 và L dùng chân đá vào cửa rào nhà của C dẫn đến hai bên đánh nhau. V, T1 đánh nhau, bà Á lại can ngăn; C cũng chạy ra đánh nhau thì bị Lời câu cổ Còn cho Đ1, T dùng tay đánh vào lưng của C, C bị xô ngã trước cửa nhà. Tức giận, Còn vào nhà lấy 01 con dao lưỡi bằng kim loại dài 40cm, cán hình trụ tròn dài 60cm chạy ra chém trúng khuỷu tay trái và tay phải của bà Á gây thương tích. Lời, Đ1, T thấy vậy xông lại giật cây dao trên tay của Còn. Trong lúc giằn co qua lại T bị lưỡi dao cắt trúng lòng bàn tay trái nên T chạy về nhà T lấy đoạn tre tầm vông dài 1.2m qua đánh Còn. Đ1 giật được dao trên tay Còn ném xuống mặt đường cho bà Á lại nhặt đem cất vào sân nhà của L. Thấy đánh nhau, bà Bùi Thị Phương T2 (vợ của L) cùng những người xung quanh chạy đến can ngăn kéo Lời, T, Đ1 về nhà. Sau đó, Đ1 trình báo Công an phường M, bà Á, T đến Bệnh viện Đ2 điều trị thương tích. Thái xuất viện trong ngày, còn bà Á điều trị đến ngày 11 tháng 3 năm 2024 thì xuất viện.
Tang vật chứng thu giữ được:
- - 01 cây dao lưỡi bằng kim loại dài 40cm, cán hình trụ tròn dài 60cm trước sân nhà của Nguyễn Văn L.
- - 01 đoạn tre tầm vông dài 1.2m do Nguyễn Trung T giao nộp.
- * Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 311/24/KLTTCT-TTPY ngày 07/5/2024, Trung tâm Pháp y tỉnh A kết luận Nguyễn Trung T, sinh năm 2006 như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo mặt lòng liên đốt 2-3 ngón III bàn tay trái, kích thước (2.5 x 0.1)cm, là sẹo có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%.
- Sẹo mặt lòng đốt 2 ngón IV bàn tay trái, kích thước (2.2 x 0.1)cm, là sẹo có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%.
- Sẹo mặt lòng đốt 3 ngón V bàn tay trái, kích thước (02 x 0.1)cm, là sẹo có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Nguyễn Trung T tại thời điểm giám định là 03%. Thương tích trên do vật sắc gây nên.
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- * Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 310/24/KLTTCT-TTPY ngày 10/5/2024, Trung tâm Pháp y tỉnh A kết luận bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1987 như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo mặt sau 1/3 giữa cẳng tay phải, kích thước (4.8 x 0.3)cm, là sẹo có kích thước trung bình tỷ lệ là 02%.
- Sẹo mu bàn tay phải phía ngón IV kích thước (1.6 x 0.2)cm, là sẹo có kích thước nhỏ tỷ lệ là 01%.
- Sẹo mặt hồng đốt 1 ngón I bàn tay phải, kích thước (2.5 x 0.2)cm, là sẹo có kích thước nhỏ tỷ lệ là 01%.
- Sẹo mặt lòng vòng ra mặt lưng liên đốt 1 – 2 ngón II bàn tay phải, kích thước (4.5 x 0.2)cm, là sẹo có kích thước nhỏ tỷ lệ là 01%. Gây:
- + Đứt gân gấp, điều trị bảo tồn. Hiện tại gây cứng một khớp liên đốt ngón II. Tỷ lệ là 05%;
- + Rạn xương đốt 2 ngón II bàn tay phải, điều trị bảo tồn. Tỷ lệ là 01%.
Tỷ lệ là 07%.
- Sẹo mặt trước trong khuỷu tay trái, kích thước (7.5 x 0.3)cm, là sẹo có kích thước trung bình tỷ lệ là 02%.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Nguyễn Thị Á tại thời điểm giám định là 12%. Thương tích trên do vật sắc gây nên.
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- * Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 313/24/KLTTCT-TTPY ngày 10/5/2024, Trung tâm Pháp y tỉnh A kết luận Huỳnh Ngọc Thúy V, sinh năm 2002 như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sây sát da dạng mảng vùng trán hiện không để lại thương tích.
- Sây sát da dạng mảng từ đuôi mi dưới mắt phải đến má phải hiện tại không để lại thương tích.
- Sây sát da vùng mặt trái hiện không để lại thương tích.
- Chấn thương vùng đính sau – cổ sau hiện tại không để lại thương tích.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của bà Huỳnh Ngọc Thúy V tại thời điểm giám định là 00%. Thương tích trên do tày gây nên.
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- * Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 314/24/KLTTCT-TTPY ngày 10/5/2024, Trung tâm Pháp y tỉnh A kết luận Huỳnh Kim C, sinh năm 1959 như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sưng nề vùng đính hiện tại không để lại thương thích.
- Sưng bầm vùng vai phải hiện tại không để lại thương tích.
- Sưng bầm vùng lưng phải hiện tại không để lại thương tích.
- Sưng bầm mặt sau cẳng tay phải hiện tại không để lại thương tích.
- Sưng bầm mặt sau cẳng tay trái hiện tại không để lại thương tích.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của ông Huỳnh Kim C tại thời điểm giám định là 00%. Thương tích trên do tày gây nên.
- Dấu hiệu chính qua giám định:
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 31 tháng 7 năm 2024 Còn đã bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bà Nguyễn Thị Á số tiền 5.000.000 đồng, bồi thường cho Nguyễn Trung T số tiền 1.000.000 đồng. Bị hại và T không yêu cầu bồi thường gì khác.
Tại Cáo trạng số: 4 5/CT-VKSLX ngày 13 tháng 02 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố Huỳnh Kim C về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và phiên tòa bị cáo Huỳnh Kim C khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Bị hại, người liên quan V, T1 trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng. Về hình phạt bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Huỳnh Kim C từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ vào các Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 cây dao lưỡi bằng kim loại dài 40cm, cán hình trụ tròn dài 60cm, 01 đoạn tre tầm vông dài 1.2m. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại để khắc phục hậu quả, bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Bị cáo không bào chữa và không tranh luận với lời luận tội của Viện kiểm sát, lời nói sau cùng của bị cáo là xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên toà người liên quan T, L, Đ1, người làm chứng vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không trở ngại đến việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Kim C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật chứng đã thu giữ, các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 09/3/2024, tại khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, bị cáo Huỳnh Kim C đã có hành vi dùng cây dao là hung khí nguy hiểm, chém bà Nguyễn Thị Á gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 12%.
Hành vi nêu trên của bị cáo Huỳnh Kim C đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường số tiền 6.000.000 đồng (bà Á 5.000.000 đồng, ông T 1.000.000 đồng) để khắc phục hậu quả; tại phiên toà, bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét thấy: Bị cáo là người thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là cần thiết. Tuy nhiên, khi lượng hình cần phải xem xét bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 02 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 và hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo là do hành động sai trái của những người liên quan; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là có căn cứ phù hợp quy định.
[5] Đối với hành vi của Nguyễn Trung T đã dùng đoạn tre cùng Nguyễn Văn L, Trần Minh Đ1 đánh Huỳnh Kim C; Trần Thị Anh T1 dùng tay đánh Huỳnh Ngọc Thúy V nhưng Còn, V thương tích 0%. Và T bị Còn gây thương tích 03%, T không yêu cầu xử lý hình sự đối với Còn, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý các hành vi này là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây dao lưỡi bằng kim loại dài 40cm, cán hình trụ tròn dài 60cm; 01 đoạn tre tầm vông dài 1.2m đã thu giữ là công cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại Á và 1.000.000 đồng cho T, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Kim C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Huỳnh Kim C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu, tiêu hủy 01 cây dao lưỡi bằng kim loại dài 40cm, cán hình trụ tròn dài 60cm; 01 đoạn tre tầm vông dài 1.2m (đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên ngày 14/02/2025).
Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Huỳnh Kim C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Thi |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Huỳnh Văn Nam Đặng Thị Mỹ Hường |
Lê Thị Hồng Thi |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử bị cáo Huỳnh Kim C về tội cố ý gây thương tích
