Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 26/2025/HS-ST

Ngày: 28-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quyền

Ông Danh Hoàng Duyên

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Ông Lương Quang Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 134/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Trương Văn Đ, sinh ngày 15 tháng 07 năm 1982 tại Đ - Bạc Liêu; Nơi thường trú: Khu phố B, thị trấn T, huyện T, Kiên Giang; Nơi ở hiện tại: Khu phố B, thị trấn T, huyện T, Kiên Giang; Nghề nghiệp: Công an - huyện T; Là Đảng viên sinh hoạt tại Chi bộ Tổng hợp, Đảng ủy Công an huyện T; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trương Tấn L (đã chết) và bà Võ Thị K, sinh năm 1953; Vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1992; Con ruột có 02 người, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2020;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 16/10/2024 đến ngày 16/12/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang được tại ngoại tại số nhà C, tổ A, khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

2. Lê Quốc H, sinh ngày 15 tháng 04 năm 1993 tại T - Kiên Giang; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Nhân viên bưu điện - Bưu điện huyện T ; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn Đ1, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1973; Vợ là Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1992; Con ruột có 01 người sinh năm 2020;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 02/10/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến ngày 13/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh tại ngoại theo Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn số 01/2025/HSST-QĐ ngày 13/01/2025. Hiện bị can đang được tại ngoại. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại:

  1. Anh Sơn Hoàng C1, sinh năm 2002. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
    Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
  2. Ông Sơn T1, sinh năm 1980. (có mặt)
    Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
  3. Bà Danh Thị M, sinh năm 1978. (có mặt)
    Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim L1, sinh năm 1992 (vợ bị cáo H) (có mặt)
    Địa chỉ: ấp Đông Thọ B, xã Thạnh Trị, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
  2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1992 (vợ bị cáo Đ) (có mặt)
    Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang

- Người làm chứng:

  1. Ông Phạm Hoàng L2, sinh năm 1993 (vắng mặt)
    Địa chỉ: ấp Đông Thọ A, xã Thạnh Trị, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
  2. Anh Mai Trung T2, sinh năm 2006 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
  3. Anh Lương Phát T3, sinh năm 2004 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Tổ F, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
  4. Anh Trần Minh N, sinh năm 2005 (vắng mặt)
    Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
  5. Anh Nguyễn Hữu T4, sinh năm 2001 (vắng mặt)
    Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
  6. Anh Ngô Thanh T5, sinh năm 2006 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Tổ F, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
  7. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985 (vắng mặt)
    Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Văn Đ là cán bộ đội Tham mưu, tổng hợp Công an huyện T, tỉnh Kiên Giang có quen biết Lê Quốc H là nhân viên bưu điện huyện T, tỉnh Kiên Giang do H thường xuyên đến Công an huyện T liên hệ nhận và chuyển công văn hành chính.

Thực hiện Kế hoạch sơ tuyển sức khỏe nghĩa vụ quân sự công dân sẵn sàng nhập ngũ năm 2025, Công an huyện T, tỉnh Kiên Giang phân công Trương Văn Đ tham gia Đoàn sơ tuyển giám sát chuyên môn khám sơ tuyển sức khỏe nghĩa vụ quân sự công dân sẵn sàng nhập ngũ năm 2025 do Trung tâm Y tế huyện T, tỉnh Kiên Giang lập kế hoạch (Kế hoạch số 1075/KH-TTYT ngày 13/9/2024).

Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 28/9/2024, Trương Văn Đ gặp Lê Quốc H tại trụ sở Công an huyện T. Khi gặp nhau, Đây hỏi H có muốn kiếm tiền tiêu xài không và được H đồng ý. Đây nói xong thì đưa cho H xem bản danh sách các công dân đã đăng ký thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân năm 2025, trong bản danh sách Đây đưa cho H có 06 người có địa chỉ cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang. Đây kêu H gọi điện thoại cho những người có tên trong danh sách, có số điện thoại di động kèm theo để hỏi họ có nhu cầu đi nghĩa vụ công an không, nếu có nhu cầu thì H hẹn họ ra quán cà phê bàn bạc và gửi tiền cà phê cho Đây.

Nghe Đây nói vậy, H đồng ý làm theo và trước khi đưa lại danh sách cho Đ, H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57 của H đang dùng chụp lại toàn bộ danh sách công dân đăng ký thực hiện nghĩa vụ Công an nhân dân năm 2025 và lưu lại. Đến tối 28/9/2024 và tối 29/9/2024, H dùng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, có gắn Sim số 0967.131.018 gọi điện thoại cho Mai Trung T2, Lương Phát T3, Sơn Hoàng C1, Trần Minh N, Nguyễn Hữu T4 và Ngô Thanh T5 là 06 người có tên trong danh sách các công dân đã đăng ký thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân năm 2025 do Đây đã cung cấp trước đó. Nội dung H gọi điện thoại trao đổi với từng người là: “Em muốn đi Công an phải không; đi nghĩa vụ Công an khó lắm, sáng mai em ra quán cà phê gặp anh, anh nhờ người giúp cho đi Công an cho dễ... .

Đến 09 giờ ngày 01/10/2024, Sơn Hoàng C1 khám sức khỏe xong thì C1 gọi điện thoại cho H và nói muốn gặp H. Sau đó, cha mẹ của C1 và C1 đi đến trước cổng Công an huyện T để gặp H. Sau đó, mọi người cùng đi đến quán C2 ở gần trụ sở Nhà thiếu nhi huyện T để uống nước và bàn chuyện. Khoảng 15 phút sau, Đây mặc trang phục Công an nhân dân, đeo quân hàm Thượng úy, không đeo bảng tên đến quán cà phê gặp gia đình C1. Khi đến nơi, Đ tự giới thiệu tên là Đây, đang công tác tại Công an huyện T, tỉnh Kiên Giang. Tại quán cà phê Phương Đ2, H và Đây thỏa thuận với cha mẹ của C1 là ông Sơn T1 và bà Danh Thị M về nội dung sơ tuyển vào ngành Công an, về việc chạy, lo tiền để C1 được đi nghĩa vụ trong ngành Công an nhân dân. Đây nói với gia đình ông T1 muốn cho C1 đi nghĩa vụ trong ngành Công an thì phải đưa tiền cho Đ và H là 50.000.000 đồng nhưng phải đưa trước 30.000.000 đồng, số tiền còn lại 20.000.000 đồng khi nào C1 được đi nghĩa vụ trong ngành Công an thì đưa nốt số tiền còn lại. Ngoài ra, Đ và H còn cam kết với ông T1 là sau này sẽ lo cho C1 con ông T1 vào được biên chế trong ngành Công an nhân dân nên gia đình của C1 đồng ý lo tiền để đưa cho Đ và H.

Đây hẹn gia đình C1 vào ngày 02/10/2024 sẽ đến nhà của H tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang để nhậu rồi đưa tiền cho Đ, gia đình C1 đồng ý và Đây dặn C1 và gia đình việc chạy tiền này chỉ có 05 người biết không cho dòng họ hay người khác biết.

Đến khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 02/10/2024, như đã hẹn trước đó, Đ đến nhà của H ở ấp Đ, xã T, huyện T làm mồi nhậu và chờ ông T1 đến để đưa tiền. Khoảng 05 phút sau, ông T1 gọi điện thoại di động cho H và nói với H ông T1 không vào nhà H nhậu được vì còn phải đi ra thành phố R thăm người bệnh và ông T1 hẹn gặp H đến quán N1 thuộc ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang để đưa tiền. H đồng ý và H nói với Đ về nội dung ông T1 không đến được và hẹn H ra quán 7979 để ông T1 đưa tiền.

H nói xong thì hỏi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu NVX 155, BKS 68T1-345.54 của Đây để đi ra quán nhậu 7979 như đã hẹn với ông T1. Tại đây, H gọi điện thoại có hình ảnh trên ứng dụng Zalo (call video Z) cho ông T1 và C1 nhìn thấy Đây, sau đó ông T1 đưa cho H 01 chiếc phong bì (bao thơ) màu trắng, bên trong có số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), H nhận chiếc phong bì có số tiền này và bỏ vào trong túi quần và chạy xe mô tô đi thì bị lực lượng Công an huyện T bắt quả tang cùng vật chứng. Tại Cơ quan điều tra Trương Văn Đ và Lê Quốc H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đến ngày 10/10/2024, Trương Văn Đ và Lê Quốc H lần lượt bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K khởi tố, tạm giam để điều tra về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- Thu giữ của Lê Quốc H:

  • + Tiền Việt Nam: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), trong đó 20 (Hai mươi) tờ mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng); 100 (một trăm) tờ mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) – đã trả lại cho ông Sơn T1 là cha ruột của bị hại Sơn Hoàng C1 (Bút lục số 04, 57).
  • + 01 (Một) xe mô tô, biển kiểm soát 68T1–345.54, nhãn hiệu Yamaha NVX, màu xanh, xe đang sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong – đã trả cho Nguyễn Thị T là vợ của bị can Trương Văn Đ (Bút lục số 58).
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, màu xanh, đã qua sử dụng (không kiểm tra tình trạng bên trong) – đã nhập kho vật chứng.

- Thu giữ của Trương Văn Đ:

  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu hồng, đã qua sử dụng (không kiểm tra tình trạng bên trong) – đã nhập kho vật chứng.

Tại bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSKG-P2, ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trương Thanh Đ3 và bị cáo Lê Quốc H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Bị cáo Trương Văn Đ và Lê Quốc H là những người không có thẩm quyền trong việc tuyển dụng công dân đăng ký nghĩa vụ vào ngành Công an nhân dân. Nhưng với mục đích muốn chiếm đoạt tài sản người khác, các bị cáo đã liên hệ với một số người trong đó có Sơn Hoàng C1 là đối tượng khám tuyển nghĩa vụ trên địa bàn huyện T, đồng thời đưa ra thông tin gian dối là có thể lo được vào ngành Công an để C1 đưa tiền cho các bị cáo. Ngày 02/10/2024, như đã hẹn trước với Đ và H, cha mẹ của C1 là ông T1, bà M đã đến gặp và đưa cho H 30.000.000đ. Sau khi nhận tiền thì H bị Công an bắt giữ và giao nộp số tiền 30.000.000₫ trả lại cho người bị hại. Hành vi trên đây của các bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự, do đó Viện kiểm sát có đủ căn cứ giữ nguyên quan điểm Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm v, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đ; áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H, từ đó áp dụng khoản 1 Điều 54 Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt mỗi bị cáo mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm bồi thường: Đã thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước điện thoại thu giữ của các bị cáo do dùng vào việc phạm tội.

- Về ý kiến của các bị hại: Xin bãi nại, giảm nhẹ cho các bị cáo, phần bồi thường đã nhận đủ, không yêu cầu gì thêm.

Các bị cáo không có tranh luận gì với Viện kiểm sát và nói lời nói sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi sai trái của mình, mong được xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được về lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận như sau:

[2.1] Bị cáo Trương Văn Đ là cán bộ Công an huyện T, bị cáo được phân công cùng Đ4 sơ tuyển tham gia hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự trên địa bàn huyện. Bị cáo không có thẩm quyền quyết định việc cho một người đi nghĩa vụ Công an, nhưng bị cáo đã đưa danh sách, số điện thoại của những thanh niên đăng ký khám tuyển nghĩa vụ trên địa bàn để cho H gọi điện thoại hỏi xem có ai muốn đi nghĩa vụ Công an sẽ hỗ trợ, còn H sẽ nói với người đó như thế nào bị cáo không biết. Sau đó, H cho biết là có ông Sơn T1 có con là C1 muốn đi nghĩa vụ Công an nên hẹn gặp. Bị cáo gặp, tư vấn và nói về việc lo tiền làm chi phí khoảng 50 triệu là đủ. Hai bên thống nhất hẹn ngày đến nhà H nhậu rồi đưa trước 30.000.000đ. Khi bị cáo đã đến nhà H thì ông T1 gọi H chạy ra rước, nên H mượn xe của bị cáo đi rước ông T1, khi H gặp ông T1 có gọi zalo thấy hình cho bị cáo nói chuyện rồi tắt máy. Đợi Huy lâu quá bị cáo lấy xe chạy vô cơ quan thì bị mời lên làm việc, tường trình sự việc vì khi H nhận tiền của ông T1 đã bị Công an bắt quả tang.

[2.2] Bị cáo Lê Quốc H trình bày, bị cáo có làm thêm công việc giao hàng nên khi Đây đưa cho danh sách thanh niên đăng ký nghĩa vụ và nói gọi điện thoại cho những người này hỏi có muốn đi nghĩa vụ Công an không thì gặp để giúp, bị cáo sẽ được trả tiền công thì bị cáo nhận lời. Nội dung cụ thể thì do Đ gặp rồi nói, bị cáo chỉ nói như lời của Đ kêu là nếu muốn đi nghĩa vụ Công an thì hẹn gặp. Còn lại việc gặp nói chuyện hứa hẹn đưa tiền như Đ khai bị cáo không biết. Hai bên hẹn đến nhà bị cáo nhậu rồi đưa tiền thì Đ có đến, ông T1 gọi kêu bị cáo ra đưa phong bì để đưa lại cho Đ, bị cáo vừa cầm ra xe về thì bị Công an bắt giữ.

[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai nhận của các bị cáo là phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời trình bày của người bị hại các tài liệu chứng cứ có liên quan đã được thẩm tra tại phiên tòa. Với hành vi dùng thủ đoạn gian dối, thông tin sai sự thật về việc có thể lo cho người được đi nghĩa vụ Công an để chiếm đoạt tài sản bằng 30.000.000đ của các bị hại như trên, bị cáo Trương Văn Đ và Lê Quốc H đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự nước C3 năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của những người bị hại một cách trái pháp luật. Với ý thức muốn chiếm đoạt tài sản người khác, các bị cáo chủ động tìm kiếm đối tượng, cung cấp thông tin gian dối làm cho những người bị hại tin tưởng đưa tiền cho mình. Các bị cáo cùng thống nhất ý chí thực hiện tội phạm nhưng không có bàn bạc nội dung, phân công vai trò cụ thể nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn theo Điều 17 Bộ luật hình sự. Trong đó, bị cáo Đ là người giữ vai trò chính, bị cáo H là đồng phạm thực hành. Ngoài ra, các bị cáo còn lợi dụng việc Đây là chiến sĩ Công an nhân dân khi thực hiện tội phạm, nên làm cho bị hại tin tưởng và giao tài sản cho các bị cáo. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự cho nên phải bị truy tố và xét xử theo quy định. Trên cơ sở đánh giá các tình tiết vụ án, tình tiết ăn năn hối cải sau khi phạm tội, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, từ đó xem xét quyết định cho các bị cáo một mức án tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe giáo dục đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung.

[4]Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; Sau khi phạm tội đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo H đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, bị cáo Đ quá trình công tác có thành tích xuất sắc được tặng thưởng nhiều bằng khen và đều được bị hại xin giảm nhẹ, bãi nại cho các bị cáo, nên cần xem xét cho bị cáo Đ các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS; bị cáo H điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.

[5] Về trách nhiệm bồi thường: Các bên đã thỏa thuận thực hiện xong, không ai yêu cầu gì thêm, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về biện pháp tư pháp: Điện thoại các bị cáo bị thu giữ do dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

[7] Về quan điểm của Viện kiểm sát: Về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ và hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào: Điểm đ, khoản 2 Điều 174, điểm v, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
    Tuyên bố bị cáo Trương Văn Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
    Xử phạt bị cáo Trương Văn Đ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án, có khấu trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 16 tháng 10 năm 2024 đến ngày 16 tháng 12 năm 2024.
  2. Căn cứ vào: Điểm đ, khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
    Tuyên bố bị cáo Lê Quốc H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
    Xử phạt bị cáo Lê Quốc H 01 (một) năm tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án, có khấu trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 02 tháng 10 năm 2024 đến ngày 13 tháng 01 năm 2025.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
    + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, màu xanh, đã qua sử dụng (không kiểm tra tình trạng bên trong) – đã nhập kho vật chứng.
    + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu hồng, đã qua sử dụng (không kiểm tra tình trạng bên trong) – đã nhập kho vật chứng.
    (Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17 tháng 12 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang)
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Trương Văn ĐLê Quốc H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo bằng 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
  5. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo, những người bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/02/2025).
    Đối với người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1);
  • - VKSND Cấp cao tại tp. HCM (1);
  • - TAND Cấp cao tại tp . HCM (1);
  • - VKSND tỉnh KG (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh KG (1);
  • - THA tỉnh KG (1)
  • - Cơ quan điều tra tỉnh KG (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1);
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh KG;
  • - Bị cáo (1);
  • - Người liên quan (1);
  • - Luật sư (1);
  • - Tổ hành chính tư pháp (1);
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu tòa hình sự (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Diệu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 26/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Đ - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger