Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀNG MAI

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HS - ST

Ngày: 25 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bà Hoàng Thị Thoa
Các Hội thẩm nhân dân Ông Nguyễn Sơn Hóa
Bà Bùi Thị Bích Vân
Thư ký ghi biên bản phiên tòa Bà Hoàng Thị Bích Huệ

Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai – Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2025/HSST ngày 20/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 10/02/2025, đối với bị cáo có lý lịch như sau:

Họ và tên: LÊ TRUNG T, sinh năm 1987.

Nơi thường trú: Số H N, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Trung H; Con bà: Lê Thị V; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: 02 tiền án:

  • - Bản án số 535/2009/HSST ngày 28/9/2009, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt 40 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2009. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2011 (chưa xóa án tích).
  • - Bản án số 150/2014/HSST ngày 22/5/2014, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt 06 năm tù về tội Cố ý gây thương tích và 09 tháng tù về tội Không tố giác tội phạm. Tổng hợp hình phạt cho cả hai tội là 06 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2013. Chấp hành xong hình phạt ngày 16/11/2018 (chưa xóa án tích).

Bị cáo đầu thú và tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H - Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

  1. Chị Lâm Hồng Q, sinh năm 1984; Nơi thường trú: Số A ngách D ngõ I K, phường K, quận B, Hà Nội; Nơi ở hiện tại: Số B, Ngõ B T, phường K, quận T, Hà Nội (có đơn xin vắng mặt).
  2. Chị Lê Thùy A, sinh năm 2006; Nơi thường trú: Thôn A, Xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Nơi ở hiện tại: Số A, Ngõ A T, phường T, quận H, Hà Nội (có mặt).
  3. Chị Vũ Kim C, sinh năm 2006; Nơi thường trú: Tổ B, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Nơi ở hiện tại: Số A, ngõ A T, phường T, quận H, Hà Nội (có đơn xin vắng mặt).
  4. Chị Phạm Thị Ngọc T1. Sinh năm 2006; Thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Nơi ở hiện tại: Số A, Ngõ A T, phường T, quận H, Hà Nội (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân Lê Trung T không có nghề nghiệp ổn định nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Ngày 28/09/2024, và ngày 02/10/2024, Lê Trung T đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Lần thứ 1: Khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 28/09/2024, T đi xe máy nhãn hiệu Honda LEAD màu vàng - đen, biển kiểm soát 30M9 – 3452 từ nhà trọ của mình tại địa chỉ: Số C ngõ H T, M, H, Hà Nội, để tìm những nhà sơ hở để trộm cắp tài sản, khi đi đến Công ty V1 địa chỉ: Số A, ngõ A phố K, phường G, H, Hà Nội, T thấy cửa sổ trên tầng 2 đang mở, cửa không có chấn song, T trèo tường và trèo qua cửa sổ đi vào phòng làm việc trên tầng 2 của Công ty, tại đây T đã trộm cắp 01 chiếc máy tính Laptop nhãn hiệu HP Pavillion x360 màu vàng của chị Lâm Hồng Q (sinh năm: 1984, ở số B ngõ B T, phường K, T, Hà Nội), T để chiếc máy tính vào trong người rồi trèo lại ra ngoài theo đường cũ, lấy xe rồi đi về phòng trọ của mình tại số C, ngõ H T, M, H, Hà Nội. Đến khoảng 05 giờ 00 phút sáng cùng ngày T mang chiếc máy tính ra khu vực sông K bán cho người đàn ông tên Đ (chưa rõ nhân thân lai lịch) với giá 2.000.000 đồng, số tiền bán được T mang đi tiêu xài cá nhân hết.

Lần thứ 2: Khoảng 03 giờ 00 phút, ngày 02/10/2024, T đi xe máy nhãn hiệu Honda LEAD màu vàng biển kiểm soát 30M9 – 3452 từ nhà trọ tìm những nhà sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà trọ địa chỉ: Số A, ngõ A phố T, phường T, H, Hà Nội, T thấy cửa ban công phòng trọ trên tầng 2 không đóng, T treo tường lên ban công phòng trọ tầng 2 rồi mở cửa ban công đi vào bên trong phòng trọ. Tại đây T trộm cắp của chị Lê Thùy A (SN 2006, địa chỉ: Thôn A, Xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình) 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Macbook M2 màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xanh. T lấy trộm của chị Vũ Kim C (SN 2006, địa chỉ: Tổ B, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình) 01 máy tính laptop nhãn hiệu DELL màu xám, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu hồng. T trộm cắp tài sản của chị Phạm Thị Ngọc T1 (SN 2006, địa chỉ: Thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình) 01 máy tính Latop nhãn hiệu DELL màu màu đen, 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng – đen. T cho 03 chiếc laptop vào bên trong người, cất 03 chiếc điện thoại di động vào túi quần đùi bên trái rồi trèo tường ra ngoài lấy xe máy đi về nhà trọ. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, T đi xe máy ra khu vực cổng bến xe G lối vào xe buýt tại đây T gặp và bán cho H1 (không rõ nhân thân lai lịch) 03 chiếc điện thoại di động và 03 chiếc máy tính Latop với giá 15.300.000 đồng, số tiền T đã tiêu xài cá nhân còn lại 7.000.000 đồng, T cất giấu tại giỏ đựng quần áo trên phòng ngủ tầng 2 nhà trọ của mình. Ngày 14/12/2024, T đến cơ quan Công an đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Vật chứng của vụ án đã thu giữ:

  • + 01 xe máy nhãn hiệu Honda LEAD màu sơn vàng - đen, biển kiểm soát 30M9 – 3452, số khung: RLHJF2406AY729972, số máy: JF24E0399018;
  • + 01 đôi găng tay bằng vải màu trắng – đỏ;
  • + Số tiền 7.000.000 đồng.

Kết luận số 298/KL-HĐĐGTS ngày 03 tháng 12 năm 2024 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND quận H, kết luận:

  • - 01 (một) máy tính Laptop nhãn hiệu HP Pavillion x 360 14ba066TU màu vàng trị giá 4.500.000đồng;
  • - 01 (một) máy tính Laptop nhãn hiệu Macbook M2 màu vàng, seri máy X3JYY7L00N trị giá: 24.000.000đồng;
  • - 01 (một) máy tính Laptop nhãn hiệu Dell, màu xám trị giá 6.000.000 đồng;
  • - 01 (một) máy tính Laptop nhãn hiệu Dell, màu đen trị giá 10.500.000đồng;
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh trị giá 9.000.000đồng;
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu hồng trị giá 13.000.000đồng;
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng - đen trị giá 5.500.000 đồng;

Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 72.500.000đồng.

Tại cơ quan điều tra Lê Trung T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, T khai do không có nghề nghiệp ổn định nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Toàn bộ số tài sản trộm cắp được T đã bán cho những người không quen biết để lấy tiền tiêu xài cá nhân, số tiền còn lại 7.000.000đồng hiện đã bị cơ quan điều tra thu giữ.

Đối với các tài sản T trộm cắp hiện không thu hồi được. Tại cơ quan điều tra bị hại là chị Lâm Hồng Q yêu cầu T phải bồi thường giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 01 (một) máy tính Laptop nhãn hiệu HP Pavillion x 360 14ba066TU màu vàng trị giá 4.500.000 đồng.

Bị hại chị Lê Thùy A yêu cầu T phải bồi thường tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 33.000.000đồng (gồm 01 máy tính Laptop nhãn hiệu Macbook M2 màu vàng, seri máy X3JYY7L00N trị giá: 24.000.000đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh trị giá 9.000.000đồng).

Bị hại chị Vũ Kim C yêu cầu T phải bồi thường tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 19.000.000đồng gồm (01 máy tính Laptop nhãn hiệu Dell, màu xám trị giá 6.000.000đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu hồng trị giá 13.000.000 đồng).

Bị hại chị Phạm Thị Ngọc T1 yêu cầu T phải bồi thường tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 16.000.000đồng gồm (01 máy tính Laptop nhãn hiệu Dell, màu đen trị giá 10.500.000đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng - đen trị giá 5.500.000 đồng).

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda LEAD màu sơn vàng - đen, biển kiểm soát 30M9 - 3452. Qua xác minh xe máy của anh L Lê H2 (sinh năm: 1992, địa chỉ: H ngõ F L, phường L, H, Hà Nội), anh H2 khai làm nghề sửa xe máy và có mua chiếc xe trên của hai vợ chồng đến sửa chiếc xe máy trên với giá 18.500.000đồng, anh H2 trả đủ tiền và nhận xe, nhận đăng ký bản gốc. Sau đó H2 có mượn của T 2.000.000đồng và để lại xe máy trên cho T mượn để đi, hiện anh H2 đã trả hết số tiền vay của T. Cơ quan CSĐT đã trao trả chiếc xe máy trên cho anh H2, anh H2 nhận xe và không có ý kiến gì.

Đối với đôi găng tay T dùng thực hiện hành vi phạm tội, số tiền 7.000.000đồng là tiền T bán tài sản do phạm tội mà có, số vật chứng trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàng Mai để chờ quyết định xử lý.

Đối với đàn ông tên Đ, H1 là người mua những tài sản trộm cắp của T, T khai không quen biết, không rõ nhân thân lai lịch. Ngoài lời khai của T không có tài liệu nào khác để chứng minh, nên cơ quan CSĐT không có căn cứ để xử lý.

Cáo trạng số 13/CT-VKSHM ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo Lê Trung T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thực hiện việc bồi thường một phần thiệt hại cho chị Lê Thùy A với số tiền 5.000.000đồng (năm triệu đồng). Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận việc bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, khi được nói lời sau cùng bị cáo xin HĐXX cho hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; khoản 1, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trung T từ 34 đến 38 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt tiền.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo thực hiện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại là chị Lê Thùy A với số tiền 5.000.000đồng, chị Thùy A đã nhận số tiền trên và yêu cầu bị cáo tiếp tục phải bồi thường số tiền còn lại là 28.000.000đồng.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại gồm: Chị Lâm Hồng Q 4.500.000đồng; bồi thường cho chị Lê Thùy A 28.000.000đồng; bồi thường cho chị Vũ Kim C 19.000.000đồng; bồi thường cho chị Phạm Thị Ngọc T1 16.000.000đồng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo là 7.000.000đồng. Tịch thu tiêu huỷ 01 đôi găng tay màu đỏ trắng.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.

Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận H, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

[2]. Về tội danh và hình phạt:

Tại phiên toà bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, lời khai của người liên quan, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Do không có việc làm lại muốn có tiền tiêu xài, bị cáo Lê Trung T đã thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản của các bị hại. Cụ thể như sau: Vào khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 28/09/2024, tại Số A, ngõ A phố K, phường G, H, Hà Nội, Lê Trung T đã lén lút chiếm đoạt tài sản của chị Lâm Hồng Q 01 chiếc máy tính Laptop nhãn hiệu HP Pavillion x360 màu vàng, đã qua sử dụng, trị giá 4.500.000 đồng. Tiếp đến khoảng 03 giờ 00 phút, ngày 02/10/2024, lợi dụng sơ hở khi các bị hại hiện đang là sinh viên đang thuê nhà ở tại số A, ngõ A phố T, phường T, H, Hà Nội không đóng cửa sổ. Lê Trung T đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt của các bị hại gồm: Chiếm đoạt tài sản của chị Lê Thùy A 01 chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Macbook M2 màu vàng trị giá 24.000.000đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xanh trị giá 9.000.000đồng. Chiếm đoạt của chị Vũ Kim C 01 máy tính laptop nhãn hiệu DELL màu xám trị giá 6.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu hồng trị giá 13.000.000đồng. Chiếm đoạt của chị Phạm Thị Ngọc T1 01 máy tính Latop nhãn hiệu DELL màu màu đen trị giá 10.500.000đồng, 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng – đen trị giá 5.500.000đồng; Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 72.500.000đồng. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Năm 2009 bị cáo bị TAND Quận Hoàng Mai xét xử 40 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích đến ngày 22/5/2014 bị cáo bị TAND Quận Hoàng Mai xét xử 06 năm 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Không tố giác tội phạm”, tại bản án này xác định bị cáo với tình tiết tăng nặng là “tái phạm”, bản án này hiện bị cáo chưa được xoá án tích. Do vậy lần phạm tội này bị cáo phải chịu thêm tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo để xét xử theo tội danh đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.

- Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của các bị hại được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng do lười lao động, không tu dưỡng bản thân, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Chiếm đoạt tài sản của các bị hại với giá trị lớn.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo ra đầu thú, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi phạm tội, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân: Xét thấy, bị cáo có 02 tiền án vào năm 2009, 2014 hiện chưa được xoá án tích, đã được các cơ quan pháp luật cải tạo giáo dục nhiều lần nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa sai lầm khuyết điểm của bản thân, trở thành công dân tốt mà bị cáo mà vẫn thực hiện hành vi phạm tội, điều này thể hiện bị cáo là người rất coi thường pháp luật.

Đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, do vậy cần phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo đồng thời đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[4]. Về trách nhiệm dân sự:

Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của chị Thùy A là 33.000.000đồng. Tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho chị Lê Thùy A với số tiền 5.000.000đồng, hai bên có biên bản xác nhận kèm theo nên ghi nhận việc bồi thường này. Tại phiên tòa, chị Thùy A yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại là 28.000.000đồng.

Quá trình điều tra các bị hại đều yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt. Do vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường trả cho các bị hại như sau:

  • - Bồi thường trả cho chị Lâm Hồng Q giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 4.500.000đồng; Bồi thường trả cho chị Lê Thùy A tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt còn lại là 28.000.000đồng; Bồi thường trả cho chị Vũ Kim C tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 19.000.000đồng; Bồi thường trả cho chị Phạm Thị Ngọc T1 tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 16.000.000đồng.

[5]. Các biện pháp tư pháp: Đối với số tiền thu giữ của bị cáo 7.000.000đồng do bán các tài sản chiếm đoạt, xác định số tiền này do phạm tội mà có nên tịch thu để sung ngân sách nhà nước.

  • - Tịch thu tiêu huỷ vật chứng gồm: 01 đôi găng tay vải màu đỏ trắng.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1/. Tuyên bố bị cáo Lê Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2/. Áp dụng: Điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Trung T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024.

3/. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Trung T phải bồi thường tổng số tiền trả cho các bị hại là 67.500.000đồng, bao gồm:

  • - Bồi thường trả cho chị Lâm Hồng Q số tiền 4.500.000đồng;
  • - Bồi thường trả cho chị Lê Thùy A số tiền 28.000.000đồng;
  • - Bồi thường trả cho chị Vũ Kim C số tiền 19.000.000đồng;
  • - Bồi thường trả cho chị Phạm Thị Ngọc T1 số tiền 16.000.000đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự

4/. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Tịch thu số tiền 7.000.000đồng của bị cáo do hành vi phạm tội mà có để sung ngân sách nhà nước. Hiện số tiền này đã được giao nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, theo biên lai thu tiền số 0011329 ngày 06/11/2024.
  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 đôi găng tay bằng vải màu đỏ trắng. Hiện vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2025.

5/. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Trung T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.625.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6/. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hoàng Mai;
  • - Công an quận Hoàng Mai;
  • - Chi cục THADS quận Hoàng Mai;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HS - ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 26/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Trung T, phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger