TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày 25-02-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thuận
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Giang Văn Thảo
Ông Nguyễn Văn Thiện
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Nhà văn hóa Tổ dân phố H2, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân quận Hải An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 13/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 13/02/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Minh Q, sinh ngày 22/9/2001, tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn A, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Hoàng Thu H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Đang chấp hành án phạt tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình về tội Mua bán trái phép chất ma tuý; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 02/2024, qua mối quan hệ xã hội, Đoàn Văn L, sinh năm: 1996 là chủ quán Karaoke tại địa chỉ số A V, Đ, H, Hải Phòng liên hệ với Nguyễn Minh Q (có số điện thoại 0368.086.xxx) để liên hệ mua ma tuý, cụ thể:
Lần 1, ngày 27/02/2024, L đặt mua 02 túi ma tuý Ketamine (gọi là “Ke”), 03 viên ma tuý MDMA (gọi là “Kẹo”) với giá là 3.300.000 đồng.
Lần 2, ngày 03/3/2024, L đặt mua 04 viên ma tuý MDMA “Kẹo” và 02 túi ma tuý Ketamine “Ke” với giá là 3.600.000 đồng.
Để có ma tuý bán cho Đoàn Văn L, Q đã sử dụng điện thoại di dộng mang nhãn hiệu Iphone 12 Promax, truy cập vào tài khoản Zalo đăng ký bằng số điện thoại 0368.086.xxx để đặt mua ma tuý của tài khoản Zalo tên “Cúc cu”, của một người đàn ông giới thiệu tên T1. Q và T1 thoả thuận giao nhận ma túy và trả tiền tại cuối đường T thuộc phường Đ, H, Hải Phòng. Q đã trả tiền mặt cho người giao ma tuý bịt khẩu trang với số tiền lần lượt là 2.950.000 đồng vào ngày 27/02/2024; 3.200.000 đồng vào ngày 03/3/2024 và nhận ma tuý được bọc trong giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có túi nilon chứa ma tuý “Ke”, “Kẹo”.
Sau khi nhận ma tuý của T1, Q bán lại cho Đoàn Văn L tại cửa quán Karaoke số A V, Đ, H, Hải Phòng ma tuý Q nhận và giao lại cho Đoàn Văn L nguyên trạng như khi nhận bàn giao của T1. Đoàn Văn L thực hiện việc thanh toán tiền mua ma tuý từ tài khoản số 4682318887 mở tại Ngân hàng T4 của Đoàn Văn L đến tài khoản số 0368086262 của Nguyễn Minh Q với lần lượt số tiền chuyển khoản là 3.300.000 đồng vào ngày 27/02/2024 và 3.600.000 đồng vào ngày 03/3/2024, Q đã nhận đủ tiền bán ma tuý. Tổng số tiền Q thu lợi từ 02 lần bán ma tuý là 750.000 đồng (ngày 27/02/2024 Q thu lợi 350.000 đồng; ngày 03/3/2024 Q thu lợi 400.000 đồng). Số tiền bán ma túy, Q đã chi tiêu cá nhân hết.
Đối với số ma tuý mua ngày 27/02/2024 của Nguyễn Minh Q, Đoàn Văn L đã tự sử dụng một mình hết. Số ma tuý mua ngày 03/3/2024 của Q, cùng ngày L đã tổ chức cho nhóm đối tượng gồm: Nguyễn Xuân T2, Lê Khánh T3, Đỗ Hữu A, Lữ Thị N, Nguyễn Thị Thu L1 và Lường Thị V cùng sử dụng tại phòng hát tầng 3 nhà số A V, phường Đ, quận H, Hải Phòng. Khi các đối tượng đang sử dụng thì bị Công an quận H bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 đĩa sứ màu trắng, hình tròn, đường kính 31cm có bám dính tinh thể màu trắng, trên mặt đĩa có 01 thẻ nhựa cứng và 01 tờ tiền cuộn mệnh giá 10.000 đồng đều bám dính tinh thể màu trắng (mẫu 1); 01 túi nilon kích thước 5x8cm bên trong có 01 mảnh viên nén màu trắng nghi là ma tuý (mẫu 2); 01 túi nilon kích thước 2.5x2.5cm bên trong có bám dính tinh thể màu trắng (mẫu 3); 01 bật lửa; 01 đèn nháy; 01 máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Asus; 01 điện thoại mang nhãn hiệu Iphone 11 có lắp thẻ sim 0386729814 của Đoàn Văn L.
Tại Bản kết luận giám định số 243/KL-KTHS ngày 07/3/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố H, kết luận:
- + Tinh thể màu trắng bám dính của mẫu 1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính.
- + Mảnh vỡ viên nén màu trắng của mẫu gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,18 gam, loại MDMA.
- + Tinh thể màu trắng bám dính của mẫu 3 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính.
Ngày 08/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận H ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đoàn Văn L về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 161/HS-ST ngày 23/12/2024, Toà án nhân dân quận Hải An đã xử phạt Đoàn Văn L 09 (chín) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra, Nguyễn Minh Q khai nhận ngoài 02 lần bán ma tuý cho Đoàn Văn L, bị cáo còn bán 01 lần ma túy cho Nguyễn Văn H1 (sinh năm: 2001, chỗ ở: Thôn T, xã A, huyện V, TP Hải Phòng) vào ngày 25/3/2024. Hành vi này, Toà án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã xử phạt Nguyễn Minh Q 02 năm 09 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 26/3/2024.
Tại Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 13/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh Q về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên;
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung hình phạt là “phạm tội 02 lần trở lên” và bổ sung cho bị được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tổng hợp với hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy bì thư niêm phong và lượng ma túy còn lại sau giám định.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 750.000 đồng là tiền do phạm tội mà có, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của Đoàn Văn L, Biên bản kiểm tra điện thoại của Nguyễn Minh Q, Sao kê lịch sử giao dịch tài khoản của Đoàn Văn L ngày 27/02/2024 và ngày 03/3/2024, Kết luận giám định chất ma túy cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 27/02/2024, Nguyễn Minh Q đã bán 02 túi ma túy Ketamin, 03 viên ma túy MDMA với giá là 3.300.000 đồng cho Đoàn Văn L. Đến ngày 03/3/2024, Q tiếp tục bán 04 viên ma túy “Kẹo” và 02 túi ma túy “Ke” với giá là 3.600.000 đồng cho L. Tổng số tiền Q hưởng lợi từ việc bán ma túy là 750.000 đồng. Bởi vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo đã có 02 lần phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy như đã đánh giá tại M [3] nên thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; là nguyên nhân và điều kiện phát sinh các loại tội phạm khác. Do vậy, cần phải được xử lý nghiêm.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có 01 tiền án, tuy nhiên Bản án này xét xử về hành vi phạm tội xảy ra sau thời điểm bị cáo bán ma túy cho Đoàn Văn L. Bởi vậy, không thuộc trường hợp “tái phạm”;
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ông Nguyễn Văn C (ông nội của bị cáo) là liệt sỹ nên có thể áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự coi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác cho bị cáo.
[8] Về nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2024/HS-ST ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xử phạt bị cáo 02 năm 09 tháng tù về tội Mua
bán trái phép chất ma tuý. Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù của Bản án này. Do đó, lần phạm tội này cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để tiếp tục cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm và tổng hợp hình phạt của 02 bản án theo quy định của pháp luật;
[9] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm ổn định, không chứng minh được bị cáo có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung;
[10] Về xử lý vật chứng: Xét lượng ma túy (MDMA) còn lại sau giám định trong 01 túi nilon kích thước 5x8cm niêm phong trong một phong bì giấy dấu niêm phong số 243/MT/PC09; 01 túi nilon kích thước 2,5x2,5cm bên trong có bám dính tinh thể màu trắng được niêm phong trong bì thư có đóng dấu của Cơ quan CSĐT- Công an quận H là chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/02/2025).
[11] Đối với số tiền do bị cáo phạm tội mà có là 750.000 đồng (tiền có được do 02 lần bán ma túy cho Đoàn Văn L). Cần buộc bị cáo phải nộp lại, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[12] Đối với đối tượng tên T1 có tài khoản Zalo tên “Cúc cu” đã bán ma túy cho Q, hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, do Q đã xoá các giao dịch với T1, kết quả trưng cầu giám định điện thoại không khôi phục được dữ liệu nên Cơ quan Điều tra không đủ căn cứ xử lý.
[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố Nguyễn Minh Q phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Nguyễn Minh Q 08 (tám) 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù của Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 11 (mười một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26/3/2024.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon kích thước 5x8cm bên trong có chứa chất bột (ma tuý MDMA) được nghiền từ mảnh viên nén màu trắng niêm phong trong một phong bì giấy dấu niêm phong số 243/MT/PC09; 01 túi nilon kích thước 2,5x2,5 cm bên trong có bám dính tinh thể màu trắng được niêm phong trong bì thư có đóng dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/02/2025).
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106
Bộ luật Tố tụng hình sự:
Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền do phạm tội mà có là 750.000 đồng. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - Công an TP. Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - VKSND quận Hải An; - THADS quận Hải An; - THA hình sự; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, HСТР. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Thuận |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
