Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HS-ST

Ngày: 25/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bạch Hưng Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thế Anh – Cán bộ UBND thị trấn Diễn Thành, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
  2. Bà Hoàng Thị Thủy - Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Diễn Vạn, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử án Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Văn M, (tên gọi khác: Không); sinh ngày 30 tháng 8 năm 2007 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm V, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T và bà Đặng Thị H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam (có mặt).

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Phan Văn M: Bà Đặng Thị H, sinh năm 1975 - Là mẹ đẻ của bị cáo; trú tại: Xóm V, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (có mặt).

- Người bào chữa cho các bị cáo Phan Văn M: Bà Phan Thị T1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N, Chi nhánh S (có mặt).

Người làm chứng: Anh Hoàng Thành Đ (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 11 năm 2024, Phan Văn M nảy sinh ý định mua pháo về sử dụng nên M liên lạc với một người đàn ông tên H1, người ở xã N, huyện D, tỉnh Nghệ An hỏi mua pháo. Sau khi thống nhất giá mua pháo, người đàn ông tên H1 đưa hai bánh pháo loại 36 quả, một ít pháo bi và pháo tự chế đến để trước cổng nhà cho M. M đưa số tiền 1.800.000 đồng cho H1 rồi đem toàn bộ số pháo vừa mua được cất giấu ở tủ quần áo dưới cầu thang nhà ở của mình. Đến khoảng 20 giờ 35 phút ngày 01/01/2025, Phan Văn M đưa pháo đến khu vực đường đê thuộc xóm V, xã D, huyện D để tìm nơi sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện D phối hợp với Công an xã D, huyện D kiểm tra, phát hiện và bắt giữ.

Vào hồi 21 giờ 20 phút ngày 01/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phan Văn M. Quá trình khám xét thu giữ trong tủ quần áo dưới gầm cầu thang chỗ ở của Phan Văn M 01 túi nilon màu đen, bên trong chứa 02 khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm giống nhau, kích thước (14,5 x 14,5 x12,5)cm, bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, in chữ nước ngoài, nghi là pháo nổ; 01 túi nilon màu đen bên trong có chứa 10 quả hình cầu, nhiều màu sắc, mỗi quả có đường kính 3,5cm, trên mỗi quả có gắn 01 đoạn dây màu xanh, dài 4,5cm, nghi là pháo nổ; 01 túi nilon màu đen bên trong có chứa 13 quả hình cầu, nhiều màu sắc, mỗi quả đường kính 2,5cm, trên mỗi quả có gắn đoạn dây màu xanh, dài 2,5cm, nghi là pháo nổ; các khối hình trụ có đặc điểm giống nhau, mỗi khối cao 9,5cm, đường kính 4cm, trên mỗi khối có gắn đoạn dây dài 5cm, nghi là pháo nổ.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 01/01/2025 của Công an huyện D, tỉnh Nghệ An xác định: Tổng khối lượng vật chứng nghi pháo nổ thu giữ của Phan Văn M khi phát hiện và khám xét khẩn cấp chỗ ở là 6,379 kg.

Tại Bản kết luận giám định số 113/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 06/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Các mẫu vật ký hiệu từ M1 đến M6 gửi giám định đều là pháo, thuộc loại pháo nổ.

Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKS-DC ngày 22/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An truy tố Phan Văn M về tội "Tàng trữ hàng cấm" theo điểm c khoản 1 điều 191 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ hàng cấm”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt Phan Văn M từ 4 tháng đến 6 tháng tù cho hưởng án treo, buộc phải chịu thử thách 12 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon màu đen bên trong chứa vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định là 3,914 kg pháo nổ.

Bào chữa cho bị cáo Phan Văn M, Trợ giúp viên pháp lý không tranh luận gì về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố. Đồng thời nhận định bị cáo phạm tội ở độ tuổi chưa thành niên, phần nào hạn chế về mặt nhận thức pháp luật, thiếu sự quan tâm sâu sát của gia đình. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải. Ông bà nội của bị cáo là người có công với cách mạng. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự và các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để cho bị cáo được hưởng án treo ở mức án thấp nhất trong phạm vi đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Bị cáo của Phan Văn M, người đại diện hợp pháp của bị cáo không bổ sung ý kiến bào chữa và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi của mình phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp nội dung cáo trạng, vật chứng thu giữ được cũng như các chứng cứ, tài liệu điều tra khác đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận vào khoảng 20 giờ 35 phút ngày 01/01/2025, tại khu vực đường đê thuộc xóm V, xã D, huyện D, Phan Văn M thực hiện hành vi tàng trữ trái phép pháo nổ với mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện D phối hợp với Công an xã D kiểm tra, phát hiện. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phan Văn M tại xóm V, xã D hồi 21 giờ 20 phút cùng ngày thu giữ thêm một số pháo nổ trong tủ quần áo dưới gầm cầu thang. Tổng khối lượng pháo nổ thu giữ của Phan Văn M khi phát hiện và khám xét khẩn cấp chỗ ở là 6,379 kg. Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ hàng cấm", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự quản lý việc tàng trữ hàng cấm trong phạm vi lãnh thổ nước ta. Thời gian qua hoạt động buôn bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép các loại pháo xảy ra nhiều, gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình trật tự an toàn xã hội; các cơ quan chức năng đã ra sức tuyên truyền, giáo dục nhằm ngăn chặn loại tội phạm này. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do không làm chủ được bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bởi vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là cần thiết nhằm đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.

Bị cáo có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải; phạm tội không vì động cơ vụ lợi; có ông bà nội là người có công với cách mạng. Bởi vậy, cần áp dụng các tình tiết quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.

[5] Do có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bởi vậy, chưa cần thiết phải buộc chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo nhằm đảm bảo mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, tiếp tục được học tập để trở thành công dân có ích cho xã hội với mức hình phạt phù hợp so với người đã đủ 18 tuổi có vai trò tương đương như ý kiến của Kiểm sát viên và người bào chữa tại phiên tòa. Bị cáo là người dưới 18 tuổi nên không bị áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về xử lý vật chứng:

6,379 kg pháo nổ thu giữ của Phan Văn M, đã sử dụng hết 2,465 kg để giám định. Số pháo nổ còn lại là 3,914 kg đã được niêm phong là vật chứng cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu để tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Phan Văn M 04 (bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Giao bị cáo Phan Văn M cho UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

- Việc xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu 01 túi nilon màu đen đã được niêm phong, bên trong chứa vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định là 3,914 kg pháo nổ và bao bì niêm phong ban đầu để tiêu hủy.

Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng thuộc Công an huyện D, tỉnh Nghệ An theo Phiếu nhập kho vật chứng số 24/PNK ngày 10 tháng 01 năm 2025.

- Án phí: Phan Văn M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - CQĐT Công an huyện Diễn Châu;
  • - Cơ quan THA Hình sự huyện Diễn Châu;
  • - Chi cục THA Dân sự huyện Diễn Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Diễn Vạn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bạch Hưng Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự - tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 26/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Văn M về tội "Tàng trữ hàng cấm" theo điểm c khoản 1 điều 191 của Bộ luật hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger