Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 26/2025/HSST

Ngày: 25-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Luân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi

Bà Nguyễn Thị Hà

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức V, sinh năm 1992; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức T và bà Lê Thị T1; Vợ: Hoàng Thị H (đã ly hôn); Tiền án, tiền sự: Không;

D chỉ bản số 849 do Công an huyện C lập ngày 23/12/2024;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 – Công an thành phố H. Bị cáo có mặt.

* Bị hại: Anh Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1993.

HKTT và cư trú: Thôn P, xã T, huyện C, Hà Nội. Anh T2 có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1971.

HKTT và cư trú: Xóm Đ, thôn P, xã T, huyện C, Hà Nội. Bà L có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 13/8/2020, Nguyễn Đức V đến quán sửa chữa xe của anh Nguyễn Hữu T2 có địa chỉ tại thôn K, xã P, C, Hà Nội để chơi. Sau đó, V hỏi anh T2 cho mượn một chiếc xe mô tô để đi đến Khu công nghiệp P để rút tiền. Do có mối quan hệ quen biết bạn bè với nhau anh T2 đồng ý và đưa cho V mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn: Xanh – Xám- Đen, BKS 29X1-044.97 (chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị L giao cho T2 sửa chữa từ trước). Sau khi mượn được xe, V điều khiển xe đi đến cây ATM của Ngân hàng V1 tại Khu công nghiệp P, xã P, C, Hà Nội để rút tiền, nhưng khi kiểm tra trong tài khoản thì V không còn tiền. Lúc này, do cần tiền để tiêu sài cá nhân, V nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe đã mượn của anh T2, để lấy tiền tiêu sài cá nhân. V điều khiển xe đến gặp anh Trần Văn N, nói “Ông biết chỗ nào cắm xe, cắm hộ tôi phát” và nhờ N mang chiếc xe mô tô BKS 29X1-044.97 đi cầm cố. V cũng không nói cho N biết nguồn gốc chiếc xe, do có mối quan hệ quen biết bạn bè nên N đồng ý mang chiếc xe đi cầm cố hộ V (do thời gian đã lâu N không nhớ cầm cố cho ai) được số tiền 2.500.000 đồng. N đưa lại toàn bộ số tiền cầm cố xe được cho V, nhận được tiền V bỏ đi, sau đó chi tiêu cá nhân hết. Do không thấy V mang xe về trả nên anh T2 gọi điện hỏi thì V nói dối rằng: “Tao đi ra ngoài này tí, tầm 11 – 12 giờ đêm tao mang về”. Đến 12 giờ 00 ngày 14/8/2020, anh T2 tiếp tục gọi cho V để đòi xe thì V nói đã đem xe đi cầm cố, anh T2 không đồng ý và yêu cầu V phải trả lại xe. Sau đó, V đi khỏi địa phương, không về nhà, anh T2 nhiều lần tìm gặp và liên lạc nhưng không được, không biết V ở đâu. Ngày 21/8/2020, anh T2 gửi đơn đến Công an xã P đề nghị giải quyết. Ngày 26/01/2021, Công an xã P bàn giao hồ sơ đến Cơ quan điều tra thụ lý điều tra giải quyết theo quy định.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 50/KL-HĐĐG ngày 01/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận:

“Xe mô tô BKS 29X1-044.97, nhãn hiệu HONDA WAVE S, màu sơn: Xanh - Xám - Đen, số máy: JC43E1777931, số khung: 4314BY638795, xe cũ đã qua sử dụng, đăng ký tháng 8/2011. Tại thời điểm tháng 8/2020 có giá trị là 7.500.000 đồng.

Số tiền bằng chữ: Bảy triệu năm trăm nghìn đồng.”

* Vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm để thu hồi lại chiếc xe mô tô BKS 29X1-044.97, nhãn hiệu HONDA WAVE S, màu sơn: Xanh - Xám - Đen, số máy: JC43E1777931, số khung: 4314BY638795, nhưng không thu hồi được.

* Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình Nguyễn Đức V đã bồi thường cho anh T2 số tiền 7.000.000 đồng. Anh Nguyễn Hữu T2 đã nhận đủ và không có yêu cầu, đề nghị gì về vấn đề bồi thường dân sự và có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Đức V.

Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễn Đức V về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điểm a Khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (BLHS 2015).

Tại phiên toà:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều xin vắng mặt đã nhận được bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a Khoản 1 Điều 175; Điểm b, i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015, xử phạt Nguyễn Đức V từ 09 đến 12 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, tiến hành bắt bị can để tạm giam, các biện pháp điều tra như: Lấy lời khai bị can, lấy lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, trưng cầu định giá tài sản, giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với bị can. Quá trình xét xử, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Xét thấy quá trình điều tra bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và họ đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên toà Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác Cơ quan điều tra đã thu thập, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 13/8/2020, anh T2 đồng ý và đưa cho V mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu sơn: Xanh – Xám- Đen, BKS 29X1-044.97 để đi rút tiền. Sau đó, V điều khiển xe nhờ Trần Văn N mang đi cầm cố được số tiền 2.500.000 đồng và tiêu sài cá nhân hết.

Hành vi mượn xe mô tô biển kiểm soát: 29X1-044.97 trị giá 7.500.000 đồng rồi mang đi cầm cố lấy tiền tiêu sài của Nguyễn Đức V đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 BLHS 2015.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễn Đức V theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe và giáo dục chung.

[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ theo Điểm b, s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS 2015. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tuy nhiên V đã được cơ quan điều tra áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/6/2024, nhưng V cố tình không chấp hành, đã bị truy nã và đến ngày 23/12/2024 bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo.

[2.3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[2.4] Đối với anh Trần Văn N đi cầm cố xe mô tô BKS 29X1-044.97, cho V nhưng N không biết tài sản do V phạm tội mà có, N không được hưởng lợi gì nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

[2.5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tiền bồi thường không yêu cầu bồi thường gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

[2.6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  2. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 175; Điểm b, s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, phạt:
  3. Nguyễn Đức V 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2024.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Công an huyện Chương Mỹ;
  • - Chi cục THADS huyện Chương Mỹ;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - THA HS;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Luân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 26/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger