Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Y

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HS-ST

Ngày 21-02-2025

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đào Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Vũ Minh Đón

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Tiến Đạt - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thơ - Kiểm sát viên.

Ngày 21/02/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 24/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 06/02/2025, đối với bị cáo:

Trần Hùng T, sinh năm 1991, nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện G, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hùng T1 và con bà Nguyễn Thị Ngọc A; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 71/2009/HSPT ngày 04/11/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh Trần Hùng T bị xử phạt 24 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 01/10/2010; Bản án số 186/2012/HSST ngày 29/9/2012, Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 48 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 28/8/2015; Bản án số 44/2016/HSST ngày 13/4/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong bản án ngày 30/7/2018. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Có mặt.

Bị hại:

  • - Anh Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1991, trú tại: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
  • - Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1988, trú tại: Xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
  • - Anh Lê Văn H, sinh năm 1989, trú tại: Xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • - Ông Phan Trọng T3, sinh năm 1972, trú tại: Xóm C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1970, nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện G, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người làm chứng: Anh An Ngọc L, sinh năm 1984, trú tại: Thôn T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 17/10/2024, Công an xã Y, huyện Y nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại khu vực bãi đỗ xe ô tô của chợ N, thuộc địa phận thôn T, xã Y, huyện Y, phát hiện có 02 đối tượng khả nghi đang có dấu hiệu chuẩn bị trộm cắp tài sản. Khi bị phát hiện, thì 01 đối tượng bỏ chạy thoát; đối tượng còn lại tự khai nhận là Trần Hùng T, sinh năm 1991 ở thôn P, xã P, huyện G, Hà Nội và đối tượng vừa bỏ chạy thoát T khai tên là Nguyễn Văn T4, sinh năm 1988 ở khu đô thị Đ, huyện G, Hà Nội.

Công an xã Y, huyện Y lập biên bản vụ việc và thu giữ của Trần Hùng T:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh không treo biển số;
  • - 01 túi xách (dạng cặp), màu đen, có quai đeo;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galasy S20 FE, màu đen, đã qua sử dụng được niêm phong ký hiệu "ĐT Hậu 1"
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A93, kiểu máy CPH2179, vỏ ngoài màu xanh, đã qua sử dụng được niêm phong ký hiệu "ĐT Tám 1"
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, đã qua sử dụng được niêm phong ký hiệu "ĐT Điệp 1"
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh, đã qua sử dụng, được niêm phong ký hiệu "ĐT Toàn 1";
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, đã qua sử dụng, được niêm phong ký hiệu "ĐT 1";
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SX, màu trắng, đã qua sử dụng được niêm phong ký hiệu "ĐT Tuấn 2"
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu đen, đã qua sử dụng được niêm phong ký hiệu "ĐT Tuấn 1"
  • - Số tiền 3.750.000 đồng
  • - 01 miếng kim loại màu trắng, hình thoi có đầu nhọn.

Cùng ngày 17/10/2024, Trần Hùng T đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đầu thú giao nộp cho cơ quan điều tra: 01 áo dài tay Grab màu xanh; 01 quần dài màu đen; 01 đôi giày màu xanh, trắng nhãn hiệu ASIA; 01 túi xách dạng cặp màu đen, kích thước khoảng 30cm x 22cm x 18cm và 01 miếng kim loại màu trắng hình thoi có đầu nhọn, được niêm phong ký hiệu D1.

Ngày 17/10/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Hùng T và Nguyễn Văn T4. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu.

Ngày 17/10/2024 và ngày 22/10/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trích xuất: 02 đoạn video có ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ án tại vị trí trước cửa nhà anh Trần Văn D, sinh năm: 1987, ở thôn T, xã Y và 01 đoạn video tại trước cổng Công ty cổ phần T7 vào USB (Niêm phong ký hiệu DI, D2).

Ngày 17/10/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện cho bà Nguyễn Thị O, sinh năm: 1964, trú tại: thôn P, xã P, huyện G, Hà Nội (mẹ đẻ của Nguyễn Văn T4) và chị Phạm Thị V, sinh năm: 1986 (là vợ của Nguyễn Văn T4), trú tại: Tòà A, khu đô thị Đ, huyện G, Hà Nội nhận diện người qua hình ảnh video thu giữ tại vị trí trước cửa nhà anh Trần Văn D nhưng bà O, chị V không khẳng định được người có hình ảnh xuất hiện trong đoạn video có phải là Nguyễn Văn T4 hay không.

Ngày 22/10/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện tiến hành cho Trần Hùng T nhận diện người qua hình ảnh đoạn đoạn video đã thu giữ. T xác nhận đoạn video ghi lại hình ảnh tại vị trí trước cửa nhà anh Trần Văn D thì T là người lái xe mô tô, chở theo T4 mặc áo đen ngồi phía sau. Tại đoạn video trước cổng Công ty cổ phần T7 thì T là người cảnh giới còn T4 là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Ngày 31/10/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện tiến hành cho Trần Hùng T nhận dạng người qua ảnh, kết quả Trần Hùng T nhận dạng ra hình ảnh của Nguyễn Văn T4.

Kết luận định giá tài sản số 39/KL-ĐG ngày 23/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y, kết luận: 01 điện thoại Samsung Galaxy S20 FE trị giá là 4.500.000 đồng; 01 điện thoại Oppo CPH2179 trị giá là 1.000.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 85/KL-ĐG ngày 15/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, kết luận: 01 điện thoại Iphone 12 Promax trị giá là 12.000.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 52/KL-ĐG ngày 10/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y, kết luận: 01 điện thoại Iphone 13 Promax trị giá là 13.500.000 đồng.

Đối với chiếc điện thoại Redmi, màu xanh, T trình bày là do T và Nguyễn Văn T4 trộm cắp được nhưng T không biết người bị hại, không nhớ được thời gian, địa điểm trộm cắp. Còn 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu đen và 01 điện thoại Iphone SX là của Trần Hùng T.

Kết quả điều tra, Trần Hùng T khai nhận: Trần Hùng T và Nguyễn Văn T4 là người cùng thôn và có quen biết nhau. Do không có công việc làm, thiếu tiền chi tiêu cá nhân nên T và T4 rủ nhau đi trộm cắp tài sản của những người lái xe đường dài dừng đỗ dọc trên đường để nghỉ ngơi, có sơ hở trong việc quản lý tài sản.

Khoảng 22 giờ ngày 16/10/2024, T4 gọi điện thoại cho T để rủ đi trộm cắp tài sản thì T đồng ý. T4 hẹn T đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 17/10/2024 đến đón T4 cùng đi.

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 17/10/2024, T đi từ nhà mặc áo khoác dài tay G, màu xanh, quần bò dài màu đen, đi giày Asia màu trắng, đội mũ bảo hiểm màu đen, đeo khẩu trang điều khiển xe mô tô, màu xanh, nhãn hiệu Yamaha Exciter không treo biển số của T đến nhà T4. Khi đến nơi thì T4 đã đợi sẵn, T4 đưa cho T 01 túi vải có quai, màu đen để cất giữ tài sản trộm cắp được. Trước khi bị phát hiện tại khu vực bãi xe chợ N Sông H thì trong ngày 17/10/2024 T và T4 đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ 40 phút ngày 17/10/2024, T điều khiển xe mô tô chở T4 ngồi phía sau đi đến khu vực gần cây xăng N1 thuộc địa phận tổ A, phường P, quận L, thành phố Hà Nội. Quan sát thấy chiếc xe tải, dạng xe cẩu, biển số 29LA - 3269 của anh Nguyễn Xuân T2, sinh năm: 1991, trú tại: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam đang dừng đỗ bên lề đường, bên trong xe anh T2 có để chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh. T2 bảo T dừng xe, T2 xuống xe đi ra phía trước đầu xe ô tô, còn T đứng cách đầu xe ô tô khoảng 20 - 30m để cảnh giới. Khoảng 05 phút sau T2 quay ra ngồi lên xe và để vào trong túi chiếc điện thoại Iphone 13 Promax, màu xanh vừa trộm cắp được. Đến khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, anh Nguyễn Xuân T2 tỉnh dậy thì phát hiện bị trộm cắp mất chiếc điện thoại của mình.

Vụ thứ hai: T tiếp tục điều khiến xe mô tô chở T2 để đi trộm cắp tài sản. Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 17/101/204, T chở T2 đi đến khu đi đến khu vực trước cổng Công ty cổ phần T7, địa phận thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Quan sát thấy có chiếc xe đầu kéo rơ mooc, biển số: 18R - 004.50 của anh Trần Văn Đ, sinh năm 1988, ở xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Nam Định đang dừng đỗ trước cổng khu vực công ty. Trong xe anh Đ có để 01 điện thoại nhãn hiệu 12 Promax màu xanh và số tiền 1.900.000 đồng. Thấy khu vực này vắng người, T dừng xe đứng ngoài để cảnh giới, còn T2 xuống xe đi đến khu vực buồng lái xe ô tô để trộm cắp tài sản. Khoảng 02 phút sau T2 quay ra để chiếc điện thoại nhãn hiệu 12 Promax màu xanh và số tiền 1.900.000 đồng vào trong túi. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, anh Đ tỉnh dậy thì phát hiện bị trộm cắp chiếc điện thoại và số tiền 1.900.000 đồng.

Vụ thứ ba: T tiếp tục điều khiền xe mô tô chở T2 đến khu vực cây xăng Á, thuộc địa phân thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Quan sát thấy có nhiều xe ô tô dùng đỗ. T chở T2 đi vào khu vực bãi để xe rồi quay ra đứng cảnh giới. T2 đi đến chiếc xe ô tô tải, biển số 47H - 028.47 của anh Lê Văn H, sinh năm 1989 (chủ xe) và anh Phan Trọng T3, sinh năm 1972 (phụ xe) cùng ở xóm C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, trên xe có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 FEmàu xanh đen của anh H và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo vỏ ngoài màu xanh, kiểu máy CPH2179 của anh T3. Khoảng 05 phút sau T2 quay ra để 02 chiếc điện thoại vừa trộm cắp được của anh H và anh T3 vào trong túi. Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, anh H và anh T3 tỉnh dậy thì phát hiện bị trộm cắp mất 02 chiếc điện thoại của mình.

Sau đó, T tiếp tục điều khiển xe mô tô chở T2 di chuyển dọc theo hướng đường C, khi đi qua khu vực chợ N thuộc địa phận thôn T, xã Y, huyện Y. Quan sát thấy nhiều xe tải dừng đỗ bên trong nên T và T2 di chuyển vào. T2 xuống xe đi bộ vào khu vực nhiều xe đang đỗ, còn T đỗ xe đứng ngoài cảnh giới. Lúc này người dân xung quanh ở trong khu chợ phát hiện ra T2 đang chuẩn bị cậy phá cửa xe ôtô tải nên truy hô, T2 lợi dụng sơ hở bỏ chạy thoát, còn T bị giữ lại, báo Công an xã Y lập biên bản thu giữ vật chứng như nêu trên.

Đối với Nguyễn Văn T4: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã nhiều lần xác minh, triệu lập Nguyễn Văn T4 nhưng T4 vắng mặt tại địa phương nên chưa làm việc được. Ngày 15/11/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định truy tìm người đối với Nguyễn Văn T4 nhưng chưa có kết quả. Kết thúc điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y tách ra để xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Đối với chiếc điện thoại Redmi màu xanh: bị cáo Trần Hùng T5 khai nhận đã cùng với Nguyễn Văn T4 trộm cắp được nhưng bị cáo không biết người bị hại, không nhớ được thời gian, địa điểm trộm cắp. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra thông báo truy tìm người bị hại nhưng chưa có kết quả. Kết thúc điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y tách ra để xác minh, xử lý sau.

- Về xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ: Các ngày 11/12/2024, 07/01/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại anh Nguyễn Xuân T2 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, trả anh Trần Văn Đ chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax và số tiền 1.900.000 đồng.

Những vật chứng khác hiện đang được quản lý tại Kho vật chứng của Công an huyện Y gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Exciter không đeo biển số; 01 túi xách (dạng cặp), màu đen, có quai đeo; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galasy S20 FE, màu đen, đã qua sử dụng được niêm phong ký hiệu "ĐT Hậu 1"; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A93, kiểu máy CPH2179, vỏ ngoài màu xanh, đã qua sử dụng được niêm phong ký hiệu "ĐT Tám 1"; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, đã qua sử dụng được niêm phong ký hiệu "ĐT 1"; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu đen, đã qua sử dụng được niêm phong ký hiệu "ĐT Tuấn 1"; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Tphone SX, màu trắng, đã qua sử dụng được niêm phong ký hiệu "ĐT Tuấn 2"; 01 miếng kim loại màu trắng, hình thoi có đầu nhọn; 01 áo Grab màu xanh; 01 quần dài màu đen; 01 đôi giày màu xanh, trắng nhãn hiệu ASIA; 01 túi xách dạng cặp màu đen, kích thước khoảng 30cm x 22cm x 18cm và 01 miếng kim loại màu trắng hình thoi có đầu nhọn.

Số tiền 1.850.000 đồng của Trần Hùng T, hiện đang được gửi tại tài khoản tạm gửi của Công an huyện Y tại Kho bạc Nhà nước huyện Y.

Những USB lưu giữ hình ảnh trích suất camera liên quan vụ án được lưu trữ cùng hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 14/CT-VKS-YM ngày 24/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố Trần Hùng T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát Nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của những người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo, các bản ảnh, các sơ đồ hiện trường và các kết luận định giá số 39 ngày 23/10/2024 và số 52 ngày 10/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y, số 85 ngày 15/11/2024 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Do có ý định trộm cắp tài sản từ trước, trong khoảng thời gian từ 02 giờ 40 phút đến 05 giờ ngày 17/10/2024, tại địa bàn phường P, quận L, thành phố Hà Nội; xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên và xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Trần Hùng T đã có hành vi trộm cắp của anh Nguyễn Xuân T2 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax trị giá 13.500.000 đồng, của anh Trần Văn Đ 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax trị giá 12.000.000 đồng và 1.900.000 đồng; của anh Lê Văn H 01 điện thoại Samsung Galaxy S20FE trị giá 4.500.000 đồng và của anh Phan Trọng T3 01 điện thoại Oppo CPH2179 trị giá 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Trần Hùng T trộm cắp được là 32.900.000 đồng.

Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc lén lút lấy tài sản của người khác là trái pháp luật, nhưng vì mục đích vụ lợi, bị cáo vẫn nhiều lần cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố Trần Hùng T tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm mà bị cáo đã thực hiện là cần thiết, để giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì thấy:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã viết đơn xin đầu thú, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự .

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản, trong đó giá trị tài sản mỗi lần trộm cắp đều trên 2.000.000 đồng, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về quyết định hình phạt: Căn cứ tính chất, hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe phòng ngừa tội phạm chung như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại anh Nguyễn Xuân T2 và Trần Văn Đ đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu, đề nghị gì nên không đặt ra giải quyết về phần trách nhiệm dân sự đối với anh T2 và anh Đ.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp không ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về biện pháp tư pháp:

  • - Đối với 01 hộp bìa cát tông, kích thước (20x20)cm, bên trong có: 02 mũ bảo hiểm màu đen; 01 áo Grab màu xanh; 01 quần dài màu đen; 01 đôi giày màu xanh, trắng ASIA; 01 túi xách dạng cặp, màu đen kích thước khoảng (30x22x18)cm, có quai đeo và 01 miếng kim loại màu trắng, hình thoi có đầu nhọn đã cũ, bị cáo không nhận lại và là công vụ phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy của anh Lê Văn H và 01 chiếc điện thoại Oppo của anh Pham Trọng T6 cần trả lại chủ sở hữu.
  • - Đối 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter có hoá đơn mua bán, chưa đăng ký; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SX, màu đen đã qua sử dụng và số tiền 1.850.000 đồng không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại bị cáo, cho bị mẹ cáo nhận thay.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Trần Hùng T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  3. Xử phạt: Bị cáo Trần Hùng T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính tù từ ngày 17/10/2024.
  4. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46, điểm khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp bìa cát tông, kích thước (20x20)cm, bên trong có: 02 mũ bảo hiểm màu đen; 01 áo Grab màu xanh; 01 quần dài màu đen; 01 đôi giày màu xanh, trắng ASIA; 01 túi xách dạng cặp, màu đen kích thước khoảng (30x22x18)cm, có quai đeo và 01 miếng kim loại màu trắng, hình thoi có đầu nhọn (dụng cụ rút lấy sim điện thoại) được niêm phong dán kín, ký hiệu: D1.
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu đen, đã qua sử dụng được niêm phong dán kín, ký hiệu: “ĐT T 2".
    • - Trả lại cho anh Lê Văn H, sinh năm 1989, trú tại: Xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S20 FE, màu xanh đen đã qua sử dụng, được niêm phong dán kín, ký hiệu: “ĐT Hậu 1”.
    • - Trả lại cho ông Phan Trọng T3, sinh năm 1972, trú tại: Xóm C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo kiểu máy CPH2179 đã qua sử dụng, được niêm phong dán kín, ký hiệu: “ĐT Tám 1”.
    • - Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh, không đeo BKS, số khung: RLCUG1210NY091352; số máy: G3M5E-180570; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SX, màu trắng, đã qua sử dụng, được niêm phong, ký hiệu: “ĐT T 1” và số tiền 1.850.000 đồng (Một triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) cho bị cáo Trần Hùng T. Bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1970, nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện G, thành phố Hà Nội nhận thay bị cáo T.
    • (Vật chứng trên đã chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Y, tỉnh Hưng Yên theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/02/2025).
  5. Về án phí: Bị cáo Trần Hùng T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo của người có mặt tại phiên tòa tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, thời hạn kháng cáo của người vắng mặt tại phiên tòa tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản sao bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - Công an huyện Y;
  • - VKSND huyện Y;
  • - Chi cục THA DS huyện Y;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 26/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger