Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 26/2025/HSST

Ngày 20/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Huy

2. Ông Lê Văn Ninh

Thư ký phiên toà: Bà Vi Phương Linh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Vũ Đăng Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 20/02/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/HSST ngày 17/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43 /2025/QĐXXST-HS ngày 06/02/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Văn V, sinh ngày 28/10/1996

Nơi cư trú thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán Chỉ; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12. Con ông Đặng Văn N, sinh năm 1967, con bà Lý Thị D, sinh năm 1967. Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm. Có vợ Dì Thị N1, sinh năm 1998 (Đã ly hôn), có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020. Tiền sự: Không.

- Tiền án: 02

  • + Tại bản án số 13/2020/HS-ST ngày 09/7/2020, Toà án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Tại bản án số 03/2021/HS-ST ngày 01/4/2021, Toà án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án là 39 tháng tù. Ra trại ngày 18/8/2023.

- Nhân thân: 03

  • + Tại Quyết định số 947 ngày 14/5/2013 của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bắc Kạn, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chấp hành xong ngày 09/5/2014.
  • + Tại Quyết định số 03 ngày 11/6/2015, bị Công an xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác.
  • + Tại bản án số 09/2016/HSST ngày 30/3/2016, Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 18/10/2016. Chấp hành xong án phí hình sự ngày 30/5/2016, chưa thực hiện việc bồi thường 9.000.000 đồng (chín triệu đồng), bị hại không có đơn yêu cầu bồi thường.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T từ ngày 23/10/2024 đến nay. (Có mặt);

Người Bị hại: Ông Tăng Văn B, sinh năm 1969, Nơi cư trú tổ E, P. Q, TP ., tỉnh Thái Nguyên. (có đơn xin vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973, nơi cư trú tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (có đơn xin vắng mặt)

Người làm chứng:

  • - Chị Tăng Thanh H1, sinh năm 1995, nơi cư trú tổ E, phường Q, thành phố T. (Vắng mặt)
  • - Anh Phan Lê Chí H2, sinh năm 2007, nơi cư trú tổ G, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên ( vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Văn V là đối tượng nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp ổn định. Sáng ngày 23/10/2024, V đi xe buýt từ thành phố B, tỉnh Bắc Kạn đến thành phố T, tỉnh Thái Nguyên với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân, sau khi xuống đến ngã tư thuộc tổ E, phường Q, thành phố T, vì thiếu tiền mua ma tuý nên V nảy sinh ý định đi xung quanh khu vực này với mục đích trộm cắp tài sản để bán lấy tiền. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, V phát hiện có 01 con chó nhỏ, giống POODLE màu lông trắng, là tài sản của ông Tăng Văn B, (sinh năm 1969, trú tại tổ E, phường Q, thành phố T) được thả rông ngoài đường, V nảy sinh ý định trộm con chó. Lúc này, V nhìn xung quanh không ai V gọi con chó đó đến gần lại phía mình, V thấy có một chiếc ô tô mang biển kiểm soát 20A-289.98 đỗ gần đó nên V gọi con chó ra phía sau đuôi chiếc ô tô để tránh bị phát hiện. Khi con chó tiến lại gần thì V dùng tay bế con chó lên rồi bỏ đi; khi V đi bộ đến khu vực gần chợ Q thuộc tổ H, phường Q, thành phố T, Viên

2

bán con chó vừa trộm được cho ông Nguyễn Văn H (sinh năm 1973, trú tại tổ A, phường T, thành phố T) với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) rồi dùng số tiền đó đi mua ma túy của một người đàn ông không rõ nhân thân để sử dụng. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi phát hiện bị mất chó, ông B đã báo cho con trai là anh Tăng Thanh H1 (sinh năm 1995, trú tại tổ E, phường Q, thành phố T) và anh Phan Lê Trí H3 (sinh năm 2007, trú tại tổ G, phường Q, thành phố T) biết. Sau đó, anh H1 và anh H3 đã kiểm tra camera an ninh của hàng xóm và đi xung quanh tìm V. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, khi H1 và H3 đi đến khu vực thuộc tổ H, phường Q, thành phố T thì phát hiện Viên nên đã cùng người dân yêu cầu V ở lại. Ông B đã làm đơn trình báo cho công an phường Q, thành phố T đến để giải quyết vụ việc theo quy định

Tại Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T số 222/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2024, kết luận: 01 (một) con chó cảnh (còn sống), loại giống POODLE, màu lông trắng, trọng lượng 1,9 kg có giá trị là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng)

Quá trình Điều tra, Đặng Văn V đã khai nhận hành vi phạm tội như trên. Lời khai của V phù hợp với biên bản sự việc, đơn trình báo của bị hại, vật chứng thu giữ, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án

Vật chứng vụ án: 01 con chó giống POODLE, màu lông trắng, nặng 1,9 kg, hiện đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Tăng Văn B

Phần dân sự: Ông Tăng Văn B không có yêu cầu, đề nghị gì.

Bản cáo trạng số 24/CT-VKSNDTPTN ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố Đặng Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, trong phần luận tội đối với bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn V phạm tội Trộm cắp tài sản. Đề nghị: Áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình nào sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự . Đề nghị xử phạt Đặng Văn V từ 15 đến 18 tháng tù, không phạt bổ sung đối với bị cáo

Vật chứng của vụ án: 01 con chó giống POODLE, màu lông trắng, nặng 1,9 kg, hiện đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Tăng Văn B,

Phần dân sự: Ông B đã nhận lại tài sản, phần dân sự đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H là người mua tài sản do V trộm cắp, nay đã trả lại cho bị hại, ông H không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, Hội đồng xét xử không xem xét

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, truy thu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) của bị cáo V do thu lời bất chính mà có nộp ngân sách Nhà nước

3

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/NQ –UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ ngân sách nhà nước;

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.

Nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm đoàn tụ cùng gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] .Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo, Biên bản xác định hiện trường; Kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 07 giờ 30 phút ngày 23/10/2024, tại khu vực đường dân sinh thuộc tổ E, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Đặng Văn V (đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được xoá án tích) có hành vi trộm cắp 01 con chó cảnh, loại Poodle, nặng 1,9 kg, trị giá 200.000 đồng của ông Tăng Văn B rồi mang đến bán cho ông Nguyễn Văn H với giá 200.000đ, Hiện ông B đã nhận lại tài sản không yêu cầu V phải bồi thường, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông H không yêu cầu V phải trả số tiền 200.000đ. Phần dân sự đến nay đã giải quyết xong.

[3]. Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ có giá trị là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) của ông Tăng Văn B. Bị cáo thực hiện trộm cắp chưa đến 2.000.000đ, tuy nhiên năm 2021 Viên bị Toà án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của Bản án số 13/2020/HS-ST ngày 09/7/2020, Toà án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là 39 tháng tù. Ra trại ngày 18/8/2023, đến thời điểm bị cáo phạm tội mới chưa

4

được xóa án tích. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật

Nội dung điều 173 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

a)...

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều... 174...của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;...”

Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.

[4]. Xét tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần có mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

5.1. Về tiền án, tiền sự. Bị cáo chưa có tiền sự, có 02 tiền án: Tại bản án số 13/2020/HS-ST ngày 09/7/2020, Toà án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và Tại bản án số 03/2021/HS-ST ngày 01/4/2021, Toà án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án là 39 tháng tù. Ra trại ngày 18/8/2023.

5.2. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu, năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngoài ra năm 2013 Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bắc Kạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắc buộc, năm 2015 bị Công an xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác.

5.3. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự

Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo đã từng bị xét xử bằng 3 bản án, bị xử phạt hành chính 02 lần nhưng không lấy đó làm bài học, tu dưỡng đạo đức bản thân, ham chơi, lười lao động, thích hưởng thụ, hám lời bất chính, tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật nên cần có

5

hình phạt nghiêm minh tương xứng với tội trạng của bị cáo gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6]. Vật chứng của vụ án: 01 con chó giống POODLE, màu lông trắng, nặng 1,9 kg, hiện đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Tăng Văn B

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Ông B đã nhận lại tài sản, phần dân sự đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H là người mua tài sản do V trộm cắp, hiện nay đã trả lại cho bị hại, ông H không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét

Đối với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) bị cáo đã bán tài sản trộm cắp được cho ông H, ông H không có yêu cầu bị cáo trả lại. Đây là số tiền do bị cáo kiếm lời bất chính mà có nên cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước

[8]. Về hình phạt bổ sung và án phí: Không phạt bổ sung đối với bị cáo; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

  1. Bị cáo: Đặng Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”
    Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  2. Xử phạt: Đặng Văn V 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
    Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  3. Vật chứng của vụ án: 01 con chó giống POODLE, màu lông trắng, hiện đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Tăng Văn B
  4. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong
    Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của bị cáo V do thu lời bất chính mà có.
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.

6

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN;
  • - VKSND tỉnh TN;
  • - VKSND thành phố TN;
  • - Công an thành phố TN;
  • - Chi cục THADSTPTN;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Bị cáo; người bị hại, NCQLNVLQ
  • - Lưu HS; lưu BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thu Huệ

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HSST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 26/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger