Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19 – 02 – 2025

V/v tranh chấp Ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
  • - Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Cúc – Bà Phan Hoàng Mai
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên không tham gia phiên toà.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 698/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “tranh chấp Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/01/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 42/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21/01/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lê Thị Đức B, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • - Bị đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số D, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Lê Thị Đức B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đ do tự tìm hiểu quen biết sau đó tự nguyện kết hôn vào năm 2024, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, TP ., tỉnh An Giang.

Thời gian đầu chung sống vui vẻ, đến khoảng tháng 11/2024 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông Đ không tin tưởng bà, thường xuyên nghi ngờ, ghen tuông dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn trầm trọng. Nay bà không còn tình cảm vợ chồng nên bà yêu cầu ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Không có

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: giải quyết theo quy định pháp luật.

Bà từ chối tiếp tục hòa giải, bà yêu cầu sớm đưa vụ án ra xét xử, đồng thời do bà bận đi làm nên bà xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà kiên quyết ly hôn.

- Bị đơn ông Trần Văn Đ đã được Tòa án tổng đạt các thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật nhưng ông không gửi văn bản tự khai và không tham gia tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến của ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà B khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đ, địa chỉ cư trú của ông Đ thuộc thành phố L, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng bà B có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Đ thì vắng mặt không có lý do chính đáng tại phiên toà lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ, bà B theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Bà B và ông Đ tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 11/4/2024 tại UBND phường M, thành phố L nên được pháp luật Việt Nam công nhận hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp. Nay cuộc sống hôn nhân phát sinh mâu thuẫn và tình cảm vợ chồng không còn nên bà B yêu cầu được ly hôn với ông Đ.

[2.2] Tòa án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đ để ông thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Các văn bản tố tụng đều được tống đạt hợp lệ nhưng cho đến nay ông Đ vẫn vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như ông Đ tự từ bỏ quyền lợi của bản thân.

[2.3] Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau cũng như chia sẻ, hỗ trợ nhau trong cuộc sống nhưng trên thực tế giữa ông bà đã phát sinh mâu thuẫn, không còn sự thăm nom, chăm sóc lẫn nhau. Trong suốt thời gian vừa qua, ông bà vẫn không tìm được phương pháp hòa giải mâu thuẫn do đó bà B gửi đơn yêu cầu ly hôn. Nay bà B vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, từ chối hòa giải và xin vắng mặt khi xét xử cho thấy sự cương quyết trong việc yêu cầu ly hôn, ông Đ thì trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải tạo điều kiện cho ông bà hàn gắn lại với nhau nhưng ông Đ vắng mặt cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đến Tòa án, điều này chứng tỏ ông Đ không có thiện chí muốn hàn gắn đoàn tụ gia đình, không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của bà B. Như vậy cho thấy cuộc sống chung của ông bà không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai do đó yêu cầu ly hôn của bà B với ông Đ là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Về con chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.5] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: bà B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Đ không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • - Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Đức B.
  • - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị Đức B ly hôn với ông Trần Văn Đ. Giấy chứng nhận kết hôn số 62 ngày 11/4/2024 của Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L cấp cho bà B và ông Đ không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  • - Về quan hệ con chung: Không có.
  • - Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị Đức B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001965 ngày 16/12/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên. Ông Trần Văn Đ không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Ông Trần Văn Đ và bà Lê Thị Đức B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;

- Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;

- Chi cục Thi hành án dân sự cùng cấp;

- Ủy ban nhân dân xã/phường;

- Lưu; hồ sơ vụ án, văn phòng.

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 26/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn, không có con chung. Tài sản chung, nợ chung: không giải quyết
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger