|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày: 19 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Hương Trang |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Đỗ Thị Thu Hương |
| Bà Mai Lương Anh |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Quang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HS ngày 04/02/2025 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Văn Anh T; sinh ngày 23 tháng 8 năm 1996, tại Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT: Tổ 1 thôn T, xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; đảng phái: Đảng viên Đ (đã bị khai trừ ra khỏi đảng theo Quyết định số 222-QĐ/UBKTThU ngày 22/01/2025 của Ủy ban kiểm tra Thành ủy Đ1, tỉnh Lâm Đồng); dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị Mỹ C; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không;
Tiền án: Tại Bản án số 177/2024/HS-ST ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Nguyễn Văn Anh T bị xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/11/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ. Có mặt.
Bị hại:
- Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1979; địa chỉ: Số D T, xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin vắng mặt.
- Cháu Nguyễn Trần Bích T1, sinh ngày 04/5/2010; địa chỉ: Số D T, xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin vắng mặt.
Người giám hộ của cháu Nguyễn Trần Bích T1: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1979; địa chỉ: Số D T, xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ A thôn T, xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Anh T là đối tượng lang thang, không có nơi ở nhất định. Ngày 07/08/2024, Nguyễn Văn Anh T bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xử phạt 12 tháng tù, cho hưởng án treo theo bản án số 177/2024/HS-ST về tội Gây rối trật tự công cộng, chưa được xóa án tích.
Khoảng 11 giờ ngày 18/11/2024, Nguyễn Văn Anh T đi đến nhà ông Nguyễn Anh T tại Tổ A, thôn T, xã X, thành phố Đ để hỏi về công việc thì thấy trong nhà không có người trông coi nên Nguyễn Văn Anh T nảy sinh ý định vào nhà lấy trộm tài sản. Thực hiện ý định trên, Nguyễn Văn Anh T đi đến cửa hông để vào bên trong căn nhà rồi đi vào phòng ngủ, phát hiện thấy 01 (một) ví màu nâu để ở hộc bàn bên trong có số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Nguyễn Văn Anh T lấy số tiền này bỏ vào túi và tiếp tục đi vào phòng ngủ bên cạnh. Khi mở hộc bàn Nguyễn Văn Anh T thấy có 01 (một) ví màu xanh nên mở ra kiểm tra phát hiện có số tiền 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm ngàn đồng), Nguyễn Văn Anh T lấy trộm số tiền này rồi bỏ đi. Số tiền trộm cắp được, Nguyễn Văn Anh T đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 22/11/2024, Nguyễn Văn Anh T được Cơ quan Công an xã X mời về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Văn Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
* Tang vật vụ án: Số tiền 6.500.000 đồng (Không thu giữ được) (BL 16-22)
* Người bị hại: Cháu Nguyễn Trần Bích T1 và ông Nguyễn Anh T.
Qua sự việc trên, Nguyễn Văn Anh T đã tác động gia đình bồi thường cho ông T và chị T1. Ông T và chị T1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Văn Anh T.
Cáo trạng số 34/CT-VKSĐL-LĐ ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Nguyễn Văn Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
Bị cáo không kêu oan và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H trình bày: Đối với số tiền 6.500.000 đồng ông tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại và không yêu cầu bị cáo T trả lại cho ông số tiền này.
Đại diện Viện kiểm sát thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến giải quyết vụ án: Giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị xét xử:
- Bị cáo Nguyễn Văn Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Anh T từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Đề nghị áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt của Bản án số 177/2024/HS-ST ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Về xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án 01 USB hiệu Kingston, màu đỏ, dung lượng 8GB.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Lời sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo có cơ hội quay về báo hiếu cha mẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.
Bị hại ông Nguyễn Anh T và cháu Nguyễn Trần Bích T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Khoảng 11 giờ ngày 18/11/2024, Nguyễn Văn Anh T đã xâm nhập vào nhà của ông Nguyễn Anh T nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Theo đó, bị cáo đã lấy của ông Nguyễn Anh T số tiền 1.000.000 đồng và của cháu Nguyễn Trần Bích T1 số tiền 5.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn Anh T chiếm đoạt là 6.500.000 đồng.
Với hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án, chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên áp dụng tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành, có đủ khả năng nhận thức nhưng để có tiền tiêu xài nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Mặc dù đang trong thời gian thử thách của người được hưởng án treo nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới, chứng tỏ bị cáo rất xem thường pháp luật. Do đó cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn để đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.
Đối với số tiền 6.500.000 đồng do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại và không yêu cầu bị cáo T trả lại cho ông số tiền này nên không đặt ra xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án 01 USB hiệu Kingston, màu đỏ, dung lượng 8GB.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo 1 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt tại Bản án số 177/2024/HS-ST ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng chưa chấp hành là 12 tháng tù, buộc bị cáo Nguyễn Văn Anh T phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Lưu hồ sơ vụ án 01 USB hiệu Kingston, màu đỏ, dung lượng 8GB, bên trong có chứa 01 đoạn video clip tên "6058058944070" ghi lại nội dung vụ việc Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 18/11/2024 tại nhà ông Nguyễn Anh T, sinh năm: 1979, địa chỉ: 4 T - X - TP Đ - Lâm Đồng được niêm phong trong phong bì màu trắng có chữ ký của người tham gia và dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ ở mép dán phong bì (BL25-31)
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Anh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định/.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hương Trang |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Van Anh T "Trom cap tai san"
