Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/DS-PT

Ngày: 17 - 02 - 2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Khánh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế.

Bà Lê Thị Hồng Phương.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thành Huế - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Đỗ Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 203/2024/TLPT- DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 30/DSST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 291/2024/QĐ-PT ngày 30/12/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1987, địa chỉ: Tổ dân phố (TDP) C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1964, địa chỉ: TDP C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt).

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Trần P, sinh năm 1975, địa chỉ: TDP C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức C, sinh năm 1977, địa chỉ: TDP C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt).

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Trần Thị L, sinh năm 1949.

      Địa chỉ: TDP C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt).

    2. Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Văn D1, sinh năm 1974, chức vụ: Trưởng phòng Phòng Tài nguyên, Môi trường TP . (có đơn xin xét xử vắng mặt).

  4. Người làm chứng:
    1. Ông Nguyễn Đức N, sinh 1942, địa chỉ: TDP C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt).
    2. Ông Nguyễn Đình V, sinh năm 1953, địa chỉ: TDP C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt).
    3. Ông Nguyễn Văn D2, sinh 1963, địa chỉ: TDP C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt).
    4. Ông Nguyễn Đức L1, sinh 1958, địa chỉ: TDP C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt).
    5. Anh Nguyễn Xuân Đ, sinh 1971, địa chỉ: TDP C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết, nguyên đơn anh Nguyễn Tiến D và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Anh là con trai của bà Ngô Thị T và ông Nguyễn Văn T1 (tên gọi khác Minh T2), anh được biết sau khi Nhà nước xóa bỏ chế độ bao cấp, thực hiện việc chia đất tại địa phương, bố mẹ anh được Nhà nước giao đất để sử dụng. Ngày 01/4/1993, bố anh đã được Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện P (nay là thành phố P) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B662187 mang tên bố anh là ông Nguyễn Văn T1, vào sổ địa chính ngày 26/5/1994, diện tích 1.920m² đất thổ cư đối với thửa 703, tờ bản đồ số 27, địa chỉ thửa đất ở xóm C, xã T, huyện P, nay là TDP C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Năm 2004, bố anh chết, thực hiện quyết định của UBND tỉnh T về việc điều chỉnh cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất có vườn, ao cấp vượt hạn mức theo quy định do không tách diện tích đất ở và vườn ao trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Năm 2009, mẹ anh đã làm thủ tục cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK994402 ngày 09/01/2009 mang tên bà Ngô Thị T tại thửa 703, tờ bản đồ số 9 (27), diện tích đất 1.920m² mục đích sử dụng là đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm (trong đó có 1.200m² đất ở nông thôn và 720m² đất trồng cây lâu năm). Năm 2018, anh được bà T làm thủ tục tặng cho, ngày 12/9/2018, được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận QSD đất số C0854858 mang tên anh Nguyễn Tiến D tại thửa đất số 2175, tờ bản đồ số 9, diện tích 857m², trong đó có 600m² đất ở tại nông thôn và 257m² đất trồng cây lâu năm. Từ khi được tặng cho đất, anh vẫn sử dụng ổn định. Tuy nhiên, trong số đất này có một phần đất bố mẹ anh cho gia đình bà Trần Thị L (là mẹ đẻ của Nguyễn Trần P) và gia đình bà Nguyễn Thị Mai H mượn sử dụng từ năm 1992 để trồng rau. Sau này, gia đình bà H đã trả lại phần đất đã mượn cho gia đình anh, còn phần đất gia đình bà L mượn, bà L đã cho con trai là Nguyễn Trần P. Sau khi được tặng cho đất và có nhu cầu sử dụng, anh đã đòi lại phần đất này nhiều lần nhưng gia đình ông P không trả. Anh xác định đất bố mẹ anh được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất hợp pháp, sau đó tặng cho anh theo đúng quy định. Do vậy, anh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông P phải trả lại cho anh phần đất đã mượn khoảng 70m² thửa 2175, tờ bản đồ số 27, địa chỉ thửa đất TDP C, phường T, thành phố P và thu hoạch toàn bộ cây trồng trên đất để trả lại đất cho gia đình anh.

Căn cứ nguyên đơn khởi kiện là sổ địa chính có phần giao đất cho hộ ông Nguyễn Văn T1 (bản đóng dấu treo của UBND phường T); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK994402 ngày 09/01/2009 mang tên bà Ngô Thị T; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C0854858 ngày 12/9/2018 mang tên anh Nguyễn Tiến D (đều là bản sao); Bản đồ địa chính phần đất này (bản phô tô).

Bị đơn ông Nguyễn Trần Phương trình B: Năm 1985, sau khi nhà nước xóa bỏ bao cấp, anh em trong gia đình ông được chia đất để sử dụng theo tiêu chuẩn của địa phương. Thửa đất này là do gia đình bà H1 trả Nhà nước, gia đình ông được chia ½ thửa đất. Năm 1993, ông được bố mẹ cho đất, ngày 01/4/1993 ông được UBND huyện P (nay là thành phố P) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B881789 mang tên ông Nguyễn Trần P tại đất thửa số 1008, tờ bản đồ số 40. Sau khi xảy ra tranh chấp, gia đình ông kiểm tra thì đó là thửa số 109, tờ bản đồ số 27, diện tích 24m², thực tế từ trước đến nay, ông đang sử dụng khoảng 64m². Như vậy, ông không biết có nhầm lẫn hay không nhưng không phải là thửa đất số 2175, tờ bản đồ số 9 được cấp cho ông D nên không nhất trí trả phần đất này cho ông D.

Căn cứ bị đơn cung cấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B881789 do UBND huyện P cấp ngày 01/4/1993, mang tên ông Nguyễn Trần P (bản sao).

Đại diện UBND thành phố P, tỉnh Thái Nguyên trình bày quan điểm:

Ông Nguyễn Tiến D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO854858, tại thửa đất số 2175, tờ bản đồ số 9 (27), diện tích 857m² (trong đó có 600m² đất ở, 257m²đất trồng cây lâu năm) được chỉnh lý từ thửa 703, tờ bản đồ số 9.

Về nguồn gốc thửa đất 2175: Thửa đất 2175 được tách ra từ thửa đất 703, tờ bản đồ địa chính số 9 (27). Thửa đất 703, tờ bản đồ địa chính số 9 (27) nguồn gốc được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B662187 ngày 01/4/1993 cho ông Nguyễn Văn T1 (bố anh D), được vào sổ địa chính ngày 26/5/1994 với diện tích là 1.920m² đất thổ cư. Năm 2004, ông T1 chết. Năm 2009, thực hiện Quyết định số 1597/2007/QĐ-UBND ngày 10/8/2007 của UBND tỉnh T về việc điều chỉnh cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở và quyền sử dụng đất đối với thửa đất có vườn, ao đã cấp vượt hạn mức đất ở theo quy định do không tách diện tích đất ở và đất vườn, ao trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, bà T là vợ ông T1 đã làm thủ tục cấp đổi lại giấy chứng nhận thửa đất 703, tờ bản đồ số 9 (27). Ngày 12/9/2018, bà T tặng cho con trai Nguyễn Tiến D 857m² đất ở và đất trồng cây lâu năm tại thửa 703 và được chỉnh lý thành thửa 2175 (trong đó đất ở 600m², đất trồng cây lâu năm 257m²).

Đối với hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Trần P: Ông P được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B881789 ngày 01/4/1993, trong đó gồm 6 thửa đất: Thửa 715 tờ bản đồ số 27 diện tích 950m² loại đất thổ cư, thửa 253 tờ bản đồ 27 diện tích 340m² đất sản xuất nông nghiệp, thửa 732 tờ bản đồ 27 diện tích 310m² đất sản xuất nông nghiệp, thửa 1038 tờ bản đồ 14 diện tích 368m² đất sản xuất nông nghiệp, thửa 1008 tờ bản đồ 40 diện tích 64m² đất sản xuất nông nghiệp, thửa 109 tờ bản đồ 27 diện tích 24m² đất sản xuất nông nghiệp.

Quan điểm của UBND thành phố P: Các thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng của ông P không trùng với các thửa đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T1. Giấy chứng nhận của ông Nguyễn Tiến D được cấp đảm bảo đúng quy trình, quy định của pháp luật.

Người làm chứng trình bày:

  • Ông Nguyễn Đức N: Ông sinh ra và lớn lên tại TDP C, phường T, thành phố P (trước đây là xóm H, xã T, huyện P), tỉnh Thái Nguyên. Gia đình ông trước đây được hợp tác xã giao khoán đất, sau đó do thừa ra so với nhân khẩu nên ông trả lại đất cho đội và đội giao lại cho bà Trần Thị L và bà Nguyễn Thị Mai H quản lý sử dụng.
  • Ông Nguyễn Đình V: Ông sinh ra và lớn lên tại TDP C, phường T, thành phố P (trước đây là xóm H, xã T, huyện P), tỉnh Thái Nguyên. Ông làm đội phó đội sản xuất từ năm 1977 đến năm 1996. Năm 1993, ông và ông T1 (bố đẻ anh D) là đội trưởng đội sản xuất có vận động gia đình ông N thừa đất thì giao lại phần đất chân mạ cho gia đình bà L và bà H đang thiếu đất. Sau đó, ông N đã đồng ý giao đất cho đội và đội giao lại cho bà L và bà H, ngoài ra ông không có ý kiến gì khác.
  • Ông Nguyễn Đức L1: Ông sinh ra và lớn lên tại TDP C, phường T, thành phố P (trước đây là xóm H, xã T, huyện P), tỉnh Thái Nguyên. Năm 1992, hợp tác xã đo lại ruộng đất tại địa phương và thực hiện việc chia đất, nên sau khi họp chia mọi người đều biết đất của mình ở đâu như thế nào, đến năm 1993 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với phần đất đang tranh chấp trước đây của gia đình ông Nguyễn Đức N, khi có chính sách chia đất, ông N trả lại hợp tác xã, hợp tác xã chia lại cho gia đình ông T1, bà T sử dụng, sau đó gia đình ông T1, bà T chia lại cho các con.
  • Ông Nguyễn Văn D2: Quan điểm của ông cũng như ông L1 vì các ông sinh sống ở đây từ bé. Ông được biết năm 1992, hợp tác xã đo lại ruộng đất tại địa phương và thực hiện việc chia đất, nên sau khi họp chia mọi người đều biết đất của mình ở đâu, như thế nào, đến năm 1993 được cấp giấy chứng nhận. Đối với phần đất đang tranh chấp trước đây của gia đình ông Nguyễn Đức N, khi có chính sách chia đất ông N trả lại hợp tác xã, và hợp tác xã chia lại cho gia đình ông T1, bà T, sau đó gia đình ông T1, bà T chia lại cho các con.

Tại biên bản thẩm định tại chỗ và kết quả đo vẽ thể hiện: Diện tích đất tranh chấp là 82,6m² đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa 2175, tờ bản đồ số 9 (27) giá trị định giá là 65.000đ/m².

Để có cơ sở giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P cung cấp hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Tiến D và ông Nguyễn Trần P. Tuy nhiên, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P chỉ cung cấp được hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông Nguyễn Tiến D, mà không cung cấp được hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Trần P.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 30/DSST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tiến D, buộc ông Nguyễn Trần P phải trả cho ông D 82,6m² đất theo sơ đồ trích đo có ký hiệu ABCDEFGH thuộc thửa đất số 2175, tờ bản đồ số 9, địa chỉ phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Đất đã được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử đất số C0854858, ngày 12/9/2018 cho ông Nguyễn Tiến D.
  2. Buộc bà Trần Thị L phải thu hoạch toàn bộ số cây trên đất để trả lại đất cho ông Nguyễn Tiến D.

Ngoài ra còn tuyên phần án phí và quyền kháng cáo của các bên theo quy định của pháp luật.

Ngày 31/8/2024, bị đơn ông Nguyễn Trần P và ông Nguyễn Đức C, người đại diện theo ủy quyền của ông P kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Người làm chứng anh Nguyễn Xuân Đ trình bày: Việc bà T tách đất cho con là ông Nguyễn Tiến D không có trưởng, phó xóm dẫn đạc và các chữ ký của các hộ giáp danh. Gia đình bà T vào sổ bìa đỏ thổ cư mảnh đất số thửa 703 tờ bản đồ 27 là đất canh tác một lúa, một màu là sai quy định. Đề nghị quý tòa xem xét giải quyết cho đúng sự thật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử, đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Trần P và ông Nguyễn Đức C, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 30/DSST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự, người đại diện theo ủy quyền, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1]. Bị đơn kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa, đại diện UBND thành phố P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, một số người làm chứng vắng mặt và có bản trình bày ý kiến trong hồ sơ. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy:

[1]. Về nguồn gốc thửa đất có tranh chấp: Thửa đất số 2175 được tách ra thửa số 703, tờ bản đồ địa chính số 9 (27) là thửa đất của ông T1 (chồng bà T, bố anh D) đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B662187 ngày 01/4/1993, vào sổ địa chính ngày 26/5/1994 với diện tích 1.920m², địa chỉ xóm C, xã T, huyện P (nay là phường T, thành phố P), tỉnh Thái Nguyên. Năm 2004, ông T1 chết, thực hiện Quyết định số 1597/2007/QĐ-UBND ngày 10/8/2007 của UBND tỉnh T về việc ban hành quy định về điều chỉnh cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đối với thửa đất có vườn, ao đã cấp vượt hạn mức đất ở theo quy định, do không tách diện tích đất ở và đất vườn, ao trên địa bàn tỉnh, nên năm 2009, bà T đã làm thủ tục cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 09/01/2009, bà T được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK994402 mang tên bà Ngô Thị T tại thửa 703, tờ bản đồ số 9 (27) diện tích 1.920m² đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm. Sau đó, bà T tặng cho anh D một phần thửa đất đó, ngày 12/9/2018 anh D được UBND thị xã P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C0854858 mang tên anh D tại thửa 2175, tờ bản đồ số 9 diện tích 857m². Về phía bị đơn ông P cũng được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B881789 ngày 01/4/1993, cụ thể gồm 6 thửa đất là các thửa 715 tờ bản đồ số 27 diện tích 950m² loại đất thổ cư, thửa 253 tờ bản đồ 27 diện tích 340m² đất sản xuất nông nghiệp, thửa 732 tờ bản đồ 27 diện tích 310m² đất sản xuất nông nghiệp, thửa 1038 tờ bản đồ 14 diện tích 368m² đất sản xuất nông nghiệp, thửa 1008 tờ bản đồ 40 diện tích 64m² đất sản xuất nông nghiệp và thửa 109 tờ bản đồ 27 diện tích 24m² đất sản xuất nông nghiệp.

Mặt khác, tại Công văn số 1039/UBND-TNMT ngày 07/5/2024 của UBND thành phố P xác định: Các thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng của ông P không trùng với các thửa đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D được cấp đảm bảo đúng quy trình, quy định của pháp luật. Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND phường T, tại biên bản xác minh ngày 01/3/2024 có kết quả: Thửa đất 1008 tờ bản đồ số 40 có diện tích 64m² đất 1 lúa đã cấp không đúng quy định. Theo bản đồ địa chính số 40, đo đạc năm 1991 thì thửa đất số 1008 có diện tích là 1008m² là đất thổ cư của gia đình ông T3, tổ dân phố H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

[2]. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ các tài liệu do các bên cung cấp có trong hồ sơ và căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, ý kiến của cơ quan quản lý đất đai, từ đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông P trả lại cho ông D quyền sử dụng 82,6m² đất tại thửa đất số 2175, tờ bản đồ số 9, địa chỉ phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên và buộc bà Trần Thị L phải thu hoạch toàn bộ số cây trên đất để trả lại đất cho ông D là có căn cứ. Ông P, ông C kháng cáo, tuy nhiên không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ gì mới tại cấp phúc thẩm, do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo.

[3]. Về tài sản trên đất: Căn cứ Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, ông P xác định trên đất có 01 cây xoan đường kính 22cm, 02 cây keo đường kính 50cm, 02 cây keo đường kính 35cm, 03 cây keo đường kính 22cm và 03 cây keo đường kính 10cm. Đối với số tài sản này, ông P xác định không liên quan gì đến vợ ông là bà Nguyễn Thu H2. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành tống đạt hợp lệ cho bà H2 để làm rõ số tài sản trên phần đất tranh chấp, bà H2 cho rằng số cây này không liên quan gì đến bà, có trước khi bà kết hôn với ông P nên đề nghị Tòa án không triệu tập bà đến làm việc. Tòa án sơ thẩm đã tiến hành làm việc với bà Trần Thị L là mẹ đẻ của ông P, bà L xác định số cây này là do bà mua, sau đó chồng và con bà là anh Nguyễn Đức C trồng, nếu yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận bà sẽ thu hoạch cây để trả lại đất cho nguyên đơn. Quan điểm này phù hợp với quan điểm của nguyên đơn, bị đơn nên có căn cứ để chấp nhận.

[4]. Về chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản: Ở cấp sơ thẩm, nguyên đơn xác định do chi phí này không nhiều nên nguyên đơn tự nguyện chịu, Tòa án cấp sơ thẩm đã ghi nhận sự tự nguyện này là phù hợp đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[5]. Về án phí: Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và được chuyển từ dự phí đã nộp sang.

[6]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Trần P và người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Đức C, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 30/DSST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Trần P phải chịu 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được chuyển từ Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001848 ngày 16/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên sang. Xác nhận ông P đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm số 30/DSST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND thành phố Phổ Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS thành phố Phổ Yên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hồng Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/DS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 26/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger