|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2025/HS-PT Ngày 13-02-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Chum.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lâm.
Ông Trương Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Thái – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 và 20 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 254/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Hoàng Văn T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 305/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo: Hoàng Văn T, sinh năm 1984 tại tỉnh Hà Tĩnh; thường trú: Số 16, đường N5, khu phố T, phường T1, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Bá C, sinh năm 1961 và bà Võ Thị H, sinh năm 1963; bị cáo có 03 em ruột (lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1990); vợ tên Hoàng Thị N, sinh năm 1986; bị cáo có 02 con ruột (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/3/2023 đến ngày 02/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Quyết định bảo lĩnh, ngày 26/6/2024 bị tạm giam đến ngày 30/9/2024 được trả tự do, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T: Ông Nguyễn Văn T1 và bà Triệu Thị Ái N1 – Luật sư thuộc Công ty L; trụ sở: Số 474/10, đường Nguyễn Thái S, phường 5, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; ông Nguyễn Văn T1 vắng mặt, bà Triệu Thị Ái N1 có mặt.
Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 10/2020, bà Lê Thị Ngọc P, sinh năm 1975; HKTT: số 24, đường số 2, khu phố T, phường T1, thành phố D, tỉnh Bình Dương quen biết với Hoàng Văn T. Đến khoảng tháng 01/2021, do cần tiền để kinh doanh nên bà P bắt đầu vay tiền của T với nhiều khoản khác nhau. Để thỏa thuận và thống nhất các khoản vay, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max (IMEI: 35 923763 078343 4), gắn sim số: 0964699208 và ứng dụng Zalo tên “Thang Hoang” để nhắn tin đến tài khoản Zalo tên “Ngọc Phượng” của bà P. Toàn bộ các giao dịch chuyển tiền của T và bà P đều thực hiện chuyển khoản từ số tài khoản 29396878, Ngân hàng A, tên HOANG VAN THANG và số tài khoản 13874687, Ngân hàng A, tên LE THI NGOC PHUONG (có sao kê của Ngân hàng). Bà Lê Thị Ngọc P vay của Hoàng Văn T các khoản vay ngắn hạn với lãi suất cao và đã thanh toán đầy đủ lãi suất cho T. Cụ thể như sau:
-
- Khoản vay 500.000.000 đồng (11/11/2021-24/11/2021, 14 ngày):
Hoàng Văn T chuyển khoản vào tài khoản của bà P ngày 11/11/2021, kèm theo tin nhắn “Chị P vay thêm 500 triệu”. Đến ngày 24/11/2021, chị P chuyển khoản trả tiền gốc cho T là 500.000.000 đồng và tiền lãi 28.000.000 đồng, nội dung tin nhắn của T thể hiện “Chuyển lãi cho nó luôn chị”; Lãi suất vay 0,4%/ngày (12%/tháng), tương ứng 2.000.000 đồng/ngày. Lãi suất cho phép: không vượt quá 0,0556%/ngày, tương ứng 278.000 đồng/ngày; Tiền thu lợi bất chính: (2.000.000 đồng - 278.000 đồng) = 1.722.000 đồng/ngày x 14 ngày = 24.108.000 đồng. Khoản vay này đã trả đủ.
-
- Khoản vay 500.000.000 đồng (26/11/2021-06/12/2021, 10 ngày):
Số tiền vay này của bà P được T chuyển khoản vào tài khoản bà P số tiền 200.000.000 đồng và đưa tiền mặt 300.000.000 đồng. Đến ngày 06/12/2021, bà P chuyển khoản trả tiền gốc cho T 500.000.000 đồng và tiền lãi 20.000.000 đồng; Lãi suất vay 0,4%/ngày (12%/tháng), tương ứng 2.000.000 đồng/ngày, tiền lãi đã đóng 20.000.000 đồng. Lãi suất cho phép không vượt quá 0,0556%/ngày, tương ứng 278.000 đồng/ngày; Tiền thu lợi bất chính: (2.000.000 đồng - 278.000 đồng) = 1.722.000 đồng/ngày x 10 ngày = 17.220.000 đồng. Khoản vay này đã trả đủ.
-
- Khoản vay 200.000.000 đồng (01/12/2021-11/12/2021, 10 ngày):
Hình thức cho vay T giao tiền mặt 200.000.000 đồng cho bà P và sau đó T nhắn tin xác nhận. Bà P đã chuyển khoản trả tiền cho T 03 lần: Lần 1 vào ngày 11/12/2021 chuyển 140.000.000 đồng, lần 2 và 3 cùng vào ngày 13/12/2021 chuyển 30.000.000 đồng và 38.000.000 đồng (tổng cộng 208.000.000 đồng), trong đó 200.000.000 đồng tiền gốc và 8.000.000 đồng tiền lãi; Lãi suất vay 0,4%/ngày (12%/tháng), tương ứng 800.000 đồng/ngày, tiền lãi đã đóng 8.000.000 đồng; Lãi suất cho phép không vượt quá 0,0556%/ngày tương ứng 111.200 đồng/ngày. Tiền thu lợi bất chính: (800.000 đồng – 111.200 đồng) = 688.800 đồng/ngày x 10 ngày = 6.888.000 đồng. Khoản vay này đã trả đủ.
-
- Khoản vay 300.000.000 đồng (12/12/2021-22/12/2021, 10 ngày):
Hình thức cho vay tiền mặt 300.000.000 đồng được bị can T nhắn tin xác nhận. Đến ngày 22/12/2021 bà P chuyển khoản cho T số tiền 360.000.000 đồng, trong đó 300.000.000 đồng tiền gốc và 12.000.000 đồng tiền lãi, còn lại số tiền 48.000.000 đồng bị can T tính vào tiền lãi cho khoản vay 6.000.000.000 đồng; Lãi suất vay 0,4%/ngày (12%/tháng), tương ứng 1.200.000 đồng/ngày, tiền lãi đã đóng 12.000.000 đồng; Lãi suất cho phép không vượt quá 0,0556%/ngày tương ứng 166.800 đồng/ngày. Tiền thu lợi bất chính: (1.200.000 đồng – 166.800 đồng) = 1.033.200 đồng/ngày x 10 ngày = 10.332.000 đồng.
-
- Khoản vay 500.000.000 đồng (24/12/2021-02/01/2022, 10 ngày):
Hình thức cho vay T đưa tiền mặt 150.000.000 đồng, chuyển khoản 350.000.000 đồng (có tin nhắn và hình ảnh xác nhận). Đến ngày 04/01/2022, bà P chuyển khoản trả tiền gốc 500.000.000 đồng và 50.000.000 đồng, trong đó có 20.000.000 đồng tiền lãi của khoản vay này và 30.000.000 đồng tiền lãi của khoản vay khác; Lãi suất vay 0,4%/ngày (12%/tháng), tương ứng 2.000.000 đồng/ngày, tiền lãi đã đóng 20.000.000 đồng; Lãi suất cho phép không vượt quá 0,0556%/ngày tương ứng 278.000 đồng/ngày. Tiền thu lợi bất chính: (2.000.000 đồng – 278.000 đồng) = 1.722.000 đồng/ngày x 10 ngày = 17.220.000 đồng. Đã trả đủ tiền gốc và lãi (chuyển khoản).
-
- Khoản vay 100.000.000 đồng (27/12/2021). Tuy nhiên, đến ngày 28/12/2021, bà P đã trả đủ tiền gốc, không có tiền lãi.
-
- Khoản vay 500.000.000 đồng (07/01/2022-20/01/2022, 14 ngày):
Hình thức vay chuyển khoản 350.000.000 đồng, tiền mặt 150.000.000 đồng, có tin nhắn xác nhận, lãi suất 0,5%/ngày (15%/tháng), tương ứng 2.500.000/ngày. Tiền lãi phải trả: 500.000.000 đồng x 0,5% x 14 ngày = 35.000.000 đồng; Lãi suất cho phép không vượt quá 0,0556%/ngày, tương ứng 278.000/ngày. Tiền thu lợi bất chính: (2.500.000 đồng – 278.000 đồng) x 14 ngày = 31.108.000 đồng.
-
- Khoản vay 300.000.000 đồng (10/01/2022-20/01/2022, 11 ngày).
Hình thức vay T chuyển khoản 200.000.000 đồng, đưa tiền mặt 100.000.000 đồng lãi suất 0,5%/ngày. Tiền lãi phải trả: 300.000.000 đồng x 0,5%/ngày x 11 ngày = 16.500.000 đồng; Lãi suất cho phép không vượt quá 0,0556%/ngày, tương ứng 166.800 đồng/ngày. Tiền lãi đã đóng 15.000.000 đồng (bớt 1.500.000 đồng). Tiền thu lợi bất chính: 15.000.000 đồng – (166.800 đồng x 11 ngày) = 13.165.200 đồng.
* Cộng 2 khoản vay ngày 07/01/2022 và ngày 10/01/2022, đến ngày 20/01/2022, bà P phải đóng tiền lãi 51.500.000 đồng. Ngày 20/01/2022, bà P chuyển khoản qua Ngân hàng A 150.000.000 đồng, trong đó trả tiền gốc 100.000.000 đồng, trả tiền lãi 50.000.000 đồng, T cho bà P số tiền 1.500.000 đồng. Vì vậy, T chốt đến ngày 20/01/2022, bà P còn nợ số tiền 700.000.000 đồng tiền gốc, T tính ra khoản vay mới.
-
- Khoản vay 700.000.000 đồng (20/01/2022), lãi suất 0,5%/ngày, gấp 8,992 lần lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự.
-
+ Ngày 20/01/2022 - 30/01/2022 (10 ngày), tiền lãi phải trả: 700.000.000 đồng x (0,5%/ngày x 10 ngày) = 35.000.000 đồng. Ngày 14/02/2022, bà P chuyển khoản qua Ngân hàng A 40.000.000 đồng, trong đó 35.000.000 đồng tiền lãi của khoản 700.000.000 đồng; Lãi suất cho phép không vượt quá 0,0556%/ngày, tương ứng 389.200 đồng/ngày. Tiền thu lợi bất chính: 35.000.000 đồng – (389.200 đồng x 10 ngày) = 31.108.000 đồng.
-
+ Ngày 30/01/2022-10/02/2022 (10 ngày), tiền lãi phải trả: 700.000.000 đồng x 0,5%/ngày x 10 ngày = 35.000.000 đồng. Trong kỳ này bà P không trả tiền lãi. Tiền lãi còn nợ 35.000.000 đồng.
-
+ Ngày 10/02/2022-19/02/2022 (09 ngày), tiền lãi phải trả: 700.000.000 đồng x 0,5%/ ngày x 9 ngày = 31.500.000 đồng. Trong kỳ này bà P không trả tiền lãi. Cộng với tiền lãi nợ của kỳ trước 35.000.000 đồng. Tổng tiền lãi nợ 66.500.000 đồng. Ngày 18/02/2022, ký Hợp đồng đặt cọc nhà Trương Thái Hoàng O và anh Nguyễn Thành T3; HKTT: khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (O là con bà P), số tiền 800.000.000 đồng, nhưng bà P không nhận tiền mà để cho T nhận để trừ vào cả tiền gốc và tiền lãi nợ của khoản vay 700.000.000 đồng và 63.000.000 đồng tiền lãi (thực tế tiền lãi nợ 66.500.000 đồng nhưng T chỉ trừ có 63.000.000 đồng), việc trừ tiền gốc và lãi thể hiện qua việc chuyển khoản và nhắn tin xác nhận. Tính thời gian từ ngày 30/01/2022 – 19/02/2022 (19 ngày). Tiền lãi mà T tính với bà P trong khoản này là 63.000.000 đồng. Lãi suất cho phép không vượt quá 0,0556%/ngày, tương ứng 389.200/ngày. Tiền thu lợi bất chính: 63.000.000 đồng – (389.200 đồng x 19 ngày) = 55.605.200 đồng. Tuy nhiên, khi ra ký hợp đồng công chứng thì không ký được nên T đã trả lại 800.000.000 đồng cho người đặt cọc nhà (bao gồm 700.000.000 đồng tiền gốc và 63.000.000 đồng tiền lãi trước đó bà P trả cho ông T). Do đó, bà P còn nợ lại của T khoản tiền gốc 700.000.000 đồng của khoản vay này và không có căn cứ tính tiền thu lợi bất chính của T trong khoản vay từ ngày 30/01/2022-10/02/2022 và khoản vay ngày 10/02/2022-18/02/2022.
-
* Như vậy, tổng số tiền gốc Hoàng Văn T cho bà Lê Thị Ngọc P vay là 2.800.000.000 đồng. Bà P đã trả cho T 2.100.000.000 đồng tiền gốc, số tiền bà P còn nợ của Hoàng Văn T là 700.000.000 đồng.
* Tổng cộng số tiền thu lợi bất chính đối với các khoản vay trên là 151.149.200 đồng.
* Quá trình điều tra T không thừa nhận các tin nhắn hình ảnh trên là của T và cũng không thừa nhận cách tính lãi suất như trên mà T xác định có cho bà P vay tiền, việc vay tiền chỉ tính theo lãi suất Ngân hàng và không có các khoản vay ngắn hạn nêu trên.
* Theo Công văn số: 466/2022/CV-VNG ngày 20/5/2022 của Công ty Cổ phần V xác định: Số điện thoại 0967.252.xxx là tài khoản “Ngọc Phượng”, số điện thoại 0964.699.xxx là tài khoản “Thang Hoang”. Căn cứ Báo cáo chi tiết lịch
sử liên lạc và SMS của thuê bao số và ký hiệu: 3/BC-BDG-CTr ngày 04/01/2023 của Công nghiệp viễn thông Quân đội (Viettel Bình Dương) xác định: Thuê bao 0964699208 do bà Hoàng Thị N (vợ bị can T), sinh năm 1986; HKTT: xã T, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương, CMND số: [...] đăng ký chủ thuê bao, hoạt động liên tục từ ngày 02/01/2020 đến ngày 17/05/2022 thì kích hoạt lại. Sao kê chi tiết lịch sử liên lạc của thuê bao này đều được thực hiện trên thiết bị di động có mã IMEI: 359237630783434 (đây là điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max của T). Đến ngày 28/4/2022, sau khi điện thoại di động này bị tạm giữ thì T đến cửa hàng đại lý Viettel để làm lại sim số thuê bao 0964699208 rồi chuyển sang sử dụng trên thiết bị có số IMEI khác.
* Căn cứ Kết luận giám định số: 2628/KL-KTHS ngày 27/5/2022 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định:
- Đối với yêu cầu phục hồi, trích xuất dữ liệu tin nhắn zalo trong điện thoại hiệu Iphone Model: A2342, số IMEI: 35671 21170 11759; 35671 21105 51405 (của bà Lê Thị Ngọc P). Kết luận kèm theo “Báo cáo trích xuất” gồm 786 trang. Qua đó, xác định dữ liệu nội dung tin nhắn giữa tài khoản “Hoang Thang” (136665485) với tài khoản “Ngọc Phượng” (159175949) bắt đầu từ ngày 31/10/2020 đến ngày 24/3/2022.
- Căn cứ Kết luận giám định số 2628/KL-KTHS ngày 27/5/2022 thể hiện: 28 tập tin hình ảnh và 02 đoạn clip mà bà Lê Thị Ngọc P cung cấp (bà P trình bày là hình ảnh mà T đã gửi qua ứng dụng zalo để thông báo thời gian và tiền đóng lãi định kỳ). Sau khi giám định không phát hiện dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa về nội dung đối với 28 tập tin hình ảnh và video gửi giám định.
* Ngoài ra, bà P còn khai nhận bắt đầu từ đầu năm 2021 đến ngày 07/3/2021 bà P còn vay T nhiều khoản tiền khác, tính đến ngày 07/3/2021, T cộng cả tiền gốc và lãi với tổng số tiền 6.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, các tài liệu trong hồ sơ không đủ căn cứ xác định số tiền gốc và lãi trong tổng số tiền 6.000.000.000 đồng nói trên. Đồng thời, các giao dịch mua bán nhà của Trương Thái Hoàng O (con dâu bà P) đứng tên và người mua nhà đều được thực hiện hợp pháp tại Văn phòng C2 và được chuyển nhượng sang tên hợp pháp. Căn nhà của Trương Thái Hoàng O đầu tiên bán cho ông Trần Văn T4 với giá 4.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, khi ra công chứng do thiếu thủ tục nên Trương Thái Hoàng O không sang tên được cho ông T4. Ông T4 đã nhận lại đủ số tiền 4.000.000.000 đồng. Sau đó, Trương Thái Hoàng O bán lại căn nhà trên cho Nguyễn Đức T5. Ông Nguyễn Đức T5 là người mua nhà của Trương Thái Hoàng O khẳng định khi ông T5 công chứng mua nhà của O đã trả đủ tiền cho O, không chuyển tiền cho T. Hoàng Văn T cũng không thừa nhận đã cấn trừ nợ số tiền 3.200.000.000 đồng mua nhà trên. Đối với các khoản vay này, Hoàng Văn T và bà P đều khai nhận bà P có vay của T nhiều khoản vay tổng cộng lên đến gần 10.000.000.000 đồng nhưng không nhớ rõ cụ thể là bao nhiêu. Không có tài liệu, chứng cứ chứng minh số tiền bà P đã trả cho T là trả cho các khoản vay nào trong tổng khoản tiền 6.000.000.000 đồng, trong đó bao nhiêu tiền lãi, bao nhiêu tiền gốc. Vì vậy, không đủ căn cứ để chứng minh việc
cho vay lãi nặng đối với số tiền tổng cộng 6.000.000.000 đồng này. Do đó, hướng dẫn các bên giải quyết theo tranh chấp dân sự đối với khoản vay trên.
* Ngày 05 tháng 8 năm 2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương ra quyết định khởi tố vụ án, ngày 13 tháng 02 năm 2023 ra quyết định khởi tố bị can đối với Hoàng Văn T, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Vật chứng tạm giữ:
-
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh của bị cáo T; Hợp đồng đặt cọc ngày 25/02/2022 giữa Hoàng Văn T và Nguyễn Trung T6.
Tại Bản Cáo trạng số 275/CT-VKS ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017
Bản án hình sự sơ thẩm số: 305/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
1/ Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
1.1/ Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng 09 (chín) ngày tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày ngày 03/3/2023 đến ngày 02/02/2024 và từ ngày 26/6/2024 đến ngày 30/9/2024, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.
1.2/ Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Hoàng Văn T ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo Hoàng Văn T không bị tạm giữ, bị bắt tạm giam về một tội phạm nào khác.
Ngoài ra bản án sơ thẩm tuyên về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 03/10/2024, bị cáo Hoàng Văn T kháng cáo yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm và tuyên bị cáo không phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Nhận thấy trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm, bị cáo T khai nhận có cho bà Lê Thị Ngọc P vay mượn với tổng số tiền hơn 10.000.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận mức lãi suất mà Ngân hàng quy định, việc tính lãi vào ngày cuối tháng sau khi bị cáo nhận được thông báo lãi suất của ngân hàng. Bị cáo T không thừa nhận sự việc bị cáo cho bà P vay lãi nặng những khoản vay ngắn hạn với tổng số tiền 2.800.000.000 đồng nhưng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập: lời khai của bà P; Các nội dung tin nhắn trao đổi giữa bị cáo và bà P qua ứng dụng zalo trong điện thoại hiệu Iphone Model: A2342, số IMEI: 35671 21170 11759, 35671 21105 51405 (của bà Lê Thị Ngọc P)
giữa tài khoản “Hoang Thang” (136665485) với tài khoản “Ngọc Phượng” (159175949) mà Công ty Cổ phần VNG cung cấp, theo đó nội dung trong các tin nhắn đã thể hiện rõ số tiền vay, tiền lãi phải trả, thời gian vay, lịch sử trả tiền giữa bị cáo T và bà P diễn ra từ tháng 11/2021 đến tháng 01/2022 (Bút lục 894, 902, 913, 905, 920, 930, 932, 944, 946, 947, 959, 963). Đối chiếu các tin nhắn với các nội dung ghi kèm thông tin chuyển khoản sao kê tài khoản 29396878 Ngân hàng ACB mang tên HOANG VAN THANG và số tài khoản 13874687 Ngân hàng ACB mang tên LE THI NGOC PHUONG (Bút lục 65, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75) có căn cứ xác định: Từ ngày 11/11/2021 đến 19/02/2022, bị cáo T cho bà P vay số tiền 2.800.000.000 đồng. Trong đó khoản vay các ngày 11/11/2021, 26/11/2021, 01/12/2021, 12/12/2021, 24/12/2021 bị cáo T cho bà P vay với mức lãi suất từ 0,4%/ngày tức 144%/năm, gấp 7,19 lần mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đối với các khoản vay các ngày 07/01/2022, 10/01/2022, 20/01/2022, bị cáo Hoàng Văn T cho bà P vay với mức lãi suất 0,5%/ngày tức 180%/năm, gấp 8,99 lần mức lãi suất quy định là vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy tổng số tiền bị cáo T cho bà P vay là 2.800.000.000 đồng và số tiền thu lợi bất chính 206.754.400 đồng.
Bị cáo T và bà Hoàng Thị N là vợ bị cáo khai nhận thống nhất: Zalo của bị cáo được đăng nhập bởi số sim 0964699208 (sim do vợ bị cáo là bà N đứng tên) và được đăng nhập trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max (IMEI: 35 923763 078343 4) của bị cáo nhưng bị cáo không thừa nhận việc (chưa bao giờ) nhắn tin hay gọi điện trao đổi với bà P qua zalo. Đây là việc bị cáo quanh co, chối bỏ hành vi, không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, bởi: điện thoại là tài sản của cá nhân của bị cáo, mạng xã hội Zalo cũng là tài khoản cá nhân bị cáo và chính bị cáo thừa nhận điện thoại, tài khoản đăng ký Zalo này chính bị cáo là người trực tiếp quản lý và sử dụng, vợ bị cáo không biết. Đồng thời, các nội dung tin nhắn giữa bị cáo và bà P trên Zalo cũng phù hợp với lịch sử giao dịch chuyển tiền vay, trả tiền lãi giữa bà P và bị cáo. Do đó, hành vi của bị cáo Hoàng Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự nên kháng cáo của bị cáo không có cơ sở xem xét chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 305/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình.
Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T là bà Triệu Thị Ái N1 trình bày lời bào chữa có nội dung: giữ nguyên quan điểm bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T như tại phiên tòa sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo về hoàn cảnh, hành vi, mục đích thực hiện, xem xét áp dụng Điều 13, điểm c khoản 2 Điều 45 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên bị cáo không phạm tội và ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Bị cáo Hoàng Văn T trình bày: 28 tập tin bà P cung cấp không phải chữ viết và chữ ký của bị cáo và không có bản gốc nhưng Viện kiểm sát dựa vào đó buộc
tội bị cáo là không khách quan. Bị cáo cho bà P vay hơn 10.000.000.000 đồng chứ không phải 2.800.000.000 đồng như Viện kiểm sát xác định và chỉ tính lãi suất theo ngân hàng cả hai bên cùng đồng ý chứ không có chuyện vay tiền mặt và tính lãi theo ngày là không có căn cứ. Tài khoản Zalo bà P cung cấp không phải của bị cáo vì ảnh đại điện không đúng và chữ viết, chữ ký trong ảnh cũng không phải của bị cáo và bị cáo có yêu cầu cung cấp bản gốc để giám định nhưng không được, bị cáo không giao dịch tiền mặt mà chỉ qua tài khoản ngân hàng của bị cáo và vợ bị cáo. Đối với 2 tài sản đang bị ngăn chặn của bị cáo mong quý Tòa xem xét tháo gỡ cho bị cáo và trả lại chiếc điện thoại đã tịch thu cho bị cáo do những tài sản này không liên quan đến việc bị cáo làm.
Bị cáo nói lời sau cùng: mong Hội đồng xét xử xem xét công tâm hủy bản án sơ thẩm và tuyên bị cáo không phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định; đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Văn T không thừa nhận hành vi phạm tội tuy nhiên căn cứ vào các lời khai cùng với những tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định: Từ ngày 11/11/2021 đến 19/02/2022, bị cáo Hoàng Văn T cho bà Lê Thị Ngọc P vay số tiền 2.800.000.000 đồng. Trong đó khoản vay các ngày 11/11/2021, 26/11/2021, 01/12/2021, 12/12/2021, 24/12/2021 bị cáo T cho bà P vay với mức lãi suất từ 0,4%/ngày tức 144%/năm, gấp 7,19 lần mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đối với các khoản vay các ngày 07/01/2022, 10/01/2022, 20/01/2022, bị cáo Hoàng Văn T cho bà P vay với mức lãi suất 0,5%/ngày tức 180%/năm, gấp 8,99 lần mức lãi suất quy định là vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy tổng số tiền bị cáo T cho bà P vay là 2.800.000.000 đồng và số tiền thu lợi bất chính 206.754.400 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo tội danh, khung hình phạt và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm và tuyên bị cáo không phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: căn cứ vào các tài liệu đã thu thập tại cơ quan điều tra là dữ liệu nội dung tin nhắn giữa tài khoản “Hoang Thang” số
điện thoại 0964.699.xxx được thực hiện trên thiết bị di động có mã IMEI: 359237630783434 (đây là điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max của T) với tài khoản “Ngọc Phượng” số điện thoại 0967.252.xxx, các tập tin hình ảnh mà bà Lê Thị Ngọc P cung cấp đã được giám định không có dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung (bà P trình bày là hình ảnh mà T đã gửi qua ứng dụng zalo để thông báo thời gian và tiền đóng lãi định kỳ), các sao kê tài khoản ngân hàng của bị cáo và bà P là phù hợp từ đó có có đủ cơ sở để xác định số tiền vay, tiền lãi phải trả, thời gian vay, lịch sử trả tiền giữa bị cáo T và bà P diễn ra từ tháng 11/2021 đến tháng 01/2022. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và xử phạt bị cáo 01 (một) năm 02 (hai) tháng 09 (chín) ngày tù là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Việc bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội là không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án vì vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[6] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Án phí hình sự phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
-
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T.
-
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 305/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương như sau:
-
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
-
Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng 09 (chín) ngày tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày ngày 03/3/2023 đến ngày 02/02/2024 và từ ngày 26/6/2024 đến ngày 30/9/2024, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.
-
-
Án phí hình sự phúc thẩm
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Chum |
Bản án số 26/2025/HS-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 26/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T phạm tội Cho vay lãi nặng tỏng giao dịch dân sự
