Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/DS-PT

Ngày: 12 - 02 - 2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay

tài sản và nợ hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Luông.

Các Thẩm phán: Ông Dương Quốc Tuấn.

Bà Đào Thị Thuỷ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Đặng Kim Quang - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 215/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và nợ hụi”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2024/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 277/2024/QĐPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 239/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bé N, sinh năm 1969.

Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đặng Thị Huỳnh Cẩm Q, sinh năm 1992, địa chỉ: Lô B, khu dân cư B, ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn:

  1. Bà Dương Thị D, sinh năm 1973.
  2. Ông Bùi Văn K, sinh năm 1975.

Cùng địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Bùi Thị Xuân Đ, sinh năm 1994.
  2. Bà Phạm Thị T, sinh năm 1956.

Cùng địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị Bé N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đặng Thị Huỳnh Cẩm Q trình bày: Bị đơn tham gia rất nhiều dây hụi và đã hốt hụi, nhưng không đóng lại hụi chết cho nguyên đơn. Tính từ ngày 30/11/2020 đến ngày 25/3/2021 nguyên đơn có chốt hụi với bị đơn số tiền bị đơn thiếu nợ hụi nguyên đơn là 171.150.000 đồng. Từ ngày 06/4/2021 đến ngày 30/6/2021 nguyên đơn có chốt hụi với bị đơn số tiền bị đơn thiếu nợ hụi nguyên đơn là 66.800.000 đồng. Tháng 7 năm 2022 nguyên đơn có chốt hụi với bị đơn số tiền bị đơn thiếu nợ hụi nguyên đơn là 119.000.000 đồng. Ngày 25/10/2019 nguyên đơn có cho bị đơn vay 01 lượng vàng 24k quy ra tiền mặt là 50.000.000 đồng. Ngày 01/5/2020 nguyên đơn có cho bị đơn vay 60.000.000 đồng, bị đơn có liệt kê số nợ vay bị đơn nợ nguyên đơn tính đến ngày 01/5/2020 là 140.000.000 đồng. Ngày 20/5/2020 nguyên đơn cho bị đơn vay 20.000.000 đồng. Ngày 25/6/2021 nguyên đơn có cho bị đơn vay 30.000.000 đồng. Ngoài ra bị đơn còn đem cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 586573/CH00921 cấp ngày 20/3/2014 tên Nguyễn Thị L, chuyển nhượng cho Bùi Thị Xuân Đ ngày 29/5/2014, với số tiền là 50.000.000 đồng. Tổng cộng bị đơn còn nợ nguyên đơn tổng số tiền 706.950.000 đồng, bị đơn có trả được 180.000.000 đồng. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn tổng cộng số tiền nợ vay và nợ hụi 526.950.000 đồng, đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Bùi Thị Xuân Đ cho bà Đ khi bị đơn trả hết nợ cho nguyên đơn.

Bị đơn bà Dương Thị D trình bày: Bị đơn vay tiền của nguyên đơn nhiều lần, không nhớ ngày tháng năm nào, không nhớ rõ số tiền vay, các lần vay không có biên nhận, có đóng lãi cho nguyên đơn không nhớ đóng lãi vào thời gian nào và bao nhiêu tiền, các lần đóng lãi cũng không có biên nhận. Đối với số tiền hụi bị đơn thừa nhận còn thiếu nợ hụi nguyên đơn, nhưng không nhớ rõ là bao nhiêu tiền hụi. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 586573/CH00921 cấp ngày 20/3/2014, chuyển nhượng cho Bùi Thị Xuân Đ ngày 29/5/2014, do bị đơn tự lấy đi cầm vào ngày 04/4/2020 cầm cho bà Phạm Thị T số tiền 50.000.000 đồng, có nguyên đơn làm chứng, việc nguyên đơn chuộc lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ bà T thì bị đơn không biết. Bị đơn thừa nhận có nợ vay và nợ hụi nguyên đơn và đồng ý trả nợ cho nguyên đơn số tiền nợ vay và nợ hụi là 526.950.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Bùi Thị Xuân Đ trình bày: Trong phần nợ bị đơn thiếu nguyên đơn có phần 50.000.000 đồng về việc cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Bùi Thị Xuân Đ. Bà Đ đồng ý trả thay phần nợ của bị đơn phần 50.000.000 đồng, phần bị đơn cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đ. Yêu cầu nguyên đơn phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 586573/CH00921 cấp ngày 20/3/2014 đứng tên Nguyễn Thị L đã chuyển nhượng cho Bùi Thị Xuân Đ ngày 29/5/2014.

Bà Phạm Thị T trình bày: Vào ngày 04/4/2020, bị đơn bà Dương Thị D có cầm cho bà Phạm Thị T một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không biết ai đứng tên, cầm với giá 50.000.000 đồng. Bị đơn hứa 04 tháng kể từ ngày 04/4/2020 sẽ chuộc lại giấy và trả cho bà T 50.000.000 đồng, có nguyên đơn là người làm chứng cho bị đơn và nguyên đơn có nói nếu bị đơn không trả cho bà T 50.000.000 đồng, thì nguyên đơn sẽ trả cho bà T, việc này thì nói miệng với nhau không có làm văn bản. Đến khoảng tháng 9 năm 2020 bị đơn không trả lại cho bà T số tiền 50.000.000 đồng và cũng không chuộc lại giấy, nên bà T có gặp nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền cho bà T và chuộc lại giấy, nhưng bị đơn yêu cầu nguyên đơn trả tiền cho bà T giùm bị đơn, nên nguyên đơn đã trả 50.000.000 đồng cho bà T và bà T cũng đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bị đơn cầm cho bà trước đây cho nguyên đơn giữ.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 60/2024/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bị đơn Dương Thị D phải trả cho nguyên đơn Lê Thị Bé N, số tiền nợ hụi và nợ vay 476.950.000 đồng, trả lãi 57.032.066 đồng. Tổng vốn và lãi 533.982.066 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu ông Bùi Văn K phải có nghĩa vụ trả nợ.

Tuyên bố giấy giao kèo cầm cố đất ngày 04/4/2020 giữa Bùi Văn K, Dương Thị D với Phạm Thị T, là vô hiệu.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Bùi Thị Xuân Đ tự nguyện trả cho nguyên đơn Lê Thị Bé N 50.000.000 đồng, thay cho Dương Thị D (trong tổng số nợ 526.950.000 đồng). Sau khi Bùi Thị Xuân Đ trả đủ 50.000.000 đồng cho nguyên đơn, nguyên đơn có nghĩa vụ trả lại cho Bùi Thị Xuân Đ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 586573/CH00921 cấp ngày 20/3/2014, chuyển nhượng cho Bùi Thị Xuân Đ ngày 29/5/2014 (bản gốc).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, bà Lê Thị Bé N có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà, buộc ông Bùi Văn K và bà Dương Thị D có trách nhiệm trả cho bà tổng số tiền là 526.950.000 đồng và lãi suất mà Tòa án đã xem xét.

Buộc bà Bùi Thị Xuân Đ có trách nhiệm liên đới sử dụng tài sản mà ông K, bà D đã thỏa thuận đảm bảo trong việc trả tiền cho bà (Tài sản là thửa đất số 1249, tờ bản đồ số 04, diện tích 1490,0m² đất tọa lạc tại ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH 00921, do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang cấp ngày 20/3/2024, chỉnh lý biến động ngày 29/5/2020 do bà Bùi Thị Xuân Đ là chủ sở hữu).

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn rút 01 phần kháng cáo là đồng ý với việc bản án sơ thẩm buộc bà D phải trả tiền gốc và tiền lãi cho bà Bé N; giữ nguyên yêu cầu cấp phúc thẩm buộc bà Đ, ông K có trách nhiệm với bà D trả tiền cho bà Bé N; không chấp nhận việc bà Đ trả 50.000.000 đồng để nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng, quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng qui định của pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên toà người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút một phần kháng cáo vì đã đồng ý cho bị đơn trả tổng tiền vay và tiền hụi theo án sơ thẩm nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm phần đã rút. Tại phiên toà hôm nay người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thừa nhận việc giao dịch chơi hụi và mượn tiền của nguyên đơn chỉ có bà D, không có ông K; bà B Năm giao 50.000.000 đồng cho bà T và bà T giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Bùi Thị Xuân Đ cho bà Bé N không có mặt bà D, bà Đ và ông K nên không có cơ sở để chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Bé N. Bà Đ không liên quan đến các khoản nợ của bà D, tuy nhiên do bà Đ tự nguyện trả thay bà D 50.000.000 đồng, nên cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của bà Đ và buộc bà Bé N trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ khi bà Đ đã trả 50.000.000 đồng cho bà B Năm trong số tiền bà D nợ bà Bé N là có cơ sở. Về án phí dân sự sơ thẩm, tại phiên toà phúc thẩm bà D trình bày tự nguyện chịu toàn bộ án phí, kể cả án phí trên số tiền 50.000.000 đồng mà bà Đ trả thay cho bà D.

Bà D. Từ những phần tách như trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 284 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ đối với phần kháng cáo nguyên đơn đã rút. Đối với kháng cáo còn lại đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra tại phiên toà, qua kết quả tranh luận, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Bé N làm trong hạn luật định, đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự nên có đủ điều kiện để thụ lý và xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét kháng cáo của nguyên đơn: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ vay và nợ hụi tổng là 526.950.000 đồng và tiền lãi theo quy định của Nhà nước cho phép. Bị đơn bà Dương Thị D thừa nhận nợ và đồng ý trả nợ vay và nợ hụi cho nguyên đơn số tiền 526.950.000 đồng là sự tự nguyện thừa nhận của bị đơn đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên cấp sơ thẩm buộc bị đơn bà Dương Thị D trả tiền cho nguyên đơn và ghi nhận sự tự nguyện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Xuân Đ trả cho nguyên đơn là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về phần lãi, nguyên đơn yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất tối đa của Nhà nước cho phép, cấp sơ thẩm đã áp dụng mức lãi suất là 0,83%/tháng/trên các khoản tiền vay. Tổng lãi là 57.032.066 đồng trong số tiền buộc bà D trả là đúng theo yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn xin rút một phần kháng cáo và đồng ý với số tiền hụi và tiền vay mà cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả cho nguyên đơn, nên cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.

Đối với kháng cáo yêu cầu ông K có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn: Tại phiên toà nguyên đơn thừa nhận các giao dịch chơi hụi, vay mượn tiền chỉ có bà D với bà Bé N, không có mặt của ông K nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu ông K cùng có trách nhiệm trả tiền cho nguyên đơn.

Đối với yêu cầu bà Bùi Thị Xuân Đ có trách nhiệm trả tiền cùng bà D và không đồng ý cho bà Đ trả 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng: Giấy giao kèo cầm cố đất ngày 04/4/2020 bà Dương Thị D thừa nhận tự lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Bùi Thị Xuân Đ để cầm cố cho bà Phạm Thị T và bà T cũng đã thừa nhận bà D là người trực tiếp thế chấp cho bà và nhận tiền vay 50.000.000 đồng của bà T có bà Lê Thị Bé N biết và chứng kiến, không có mặt ông Bùi Văn K và bà Bùi Thị Xuân Đ. Qua thu thập chứng cứ bà Đ xác định bà D tự ý lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà đã gửi cho bà D, việc bà D tự ý lấy giấy của bà để thế chấp cho bà T là không có ý kiến của bà Đ. Sau khi vay bà D không trả tiền cho bà T nên bà T thế chấp cho bà B Năm để nhận 50.000.000 đồng từ bà Bé N và bà T cũng đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà B Năm giữ cho đến nay. Lúc giao giấy và nhận tiền chỉ có bà T với bà Bé N không có mặt bà D và bà Đ, nên không có cơ sở buộc bà Đ cùng có trách nhiệm trả dứt nợ cho bà Bé N và có cơ sở ghi nhận sự tự nguyện của bà Đ trả 50.000.000 đồng cho nguyên đơn, số tiền mà bà T đã nhận và đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Bùi Thị Xuân Đ cho bà Lê Thị Bé N đang quản lý. Bà D không trực tiếp giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhận tiền của bà Bé N, bà Bé N tự giao tiền cho bà T 50.000.000 đồng và nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên của bà Bùi Thị Xuân Đ từ bà T giao. Suốt quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm cũng như phúc thẩm bà Lê Thị Bé N và bà Phạm Thị T không có yêu cầu giải quyết, nên không có cơ sở để xem xét. Hơn nữa, nguyên đơn nhận cầm cố quyền sử dụng đất là vi phạm Điều 167 Luật đất đai năm 2013 nên cấp sơ thẩm buộc các bên đương sự phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (bà T trả 50.000.000 đồng cho bà B Năm và bà B Năm trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T), nhưng tại phiên toà sơ thẩm bà Bùi Thị Xuân Đ đồng ý trả 50.000.000 đồng cho bà B Năm là hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với kháng cáo yêu cầu bà Đ có trách nhiệm trả nợ chung cho bà Dương Thị D là không có cơ sở. Bởi vì, bà D tự ý lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 586573, số vào sổ cấp GCN: CH00921 cấp ngày 20/3/2014 đứng tên Nguyễn Thị L đã chuyển nhượng cho bà Bùi Thị Xuân Đ để thế chấp cho bà Phạm Thị T mà không thể hiện việc thế chấp cho bà Bé N, đối với việc bà T giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà B Năm là sự thoả thuận của bà T với bà Bé N, không có sự đồng ý của bà Bùi Thị Xuân Đ nên không có cơ sở buộc bà Đ trả nợ.

Từ những căn cứ như phân tích trên, thấy rằng nội dung kháng cáo của bà Lê Thị Bé N là không có cơ sở, tại phiên toà phúc thẩm bà Lê Thị Bé N không cung cấp tài liệu chứng cứ mới nên không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà.

[3]. Về án phí phúc thẩm: Bà Lê Thị Bé N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo không được Toà án chấp nhận.

[4]. Các quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 92, Điều 289, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo về số tiền cấp sơ thẩm buộc trả.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị Bé N.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bé N.

Buộc bà Dương Thị D phải trả cho bà Lê Thị Bé N số tiền nợ hụi và nợ vay tổng vốn và lãi là 533.982.066 (năm trăm ba mươi ba triệu chín trăm tám mươi hai nghìn không trăm sáu mươi sáu) đồng. Trong đó, tiền vay là 476.950.000 (bốn trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm năm mươi nghìn) đồng và trả lãi là 57.032.066 (năm mươi bảy triệu không trăm ba mươi hai nghìn không trăm sáu mươi sáu) đồng.

Không chấp nhận khởi kiện của bà Lê Thị Bé N yêu cầu ông Bùi Văn K phải có nghĩa vụ trả nợ.

Tuyên bố giấy giao kèo ngày 04/4/2020 giữa bà Dương Thị D có chữ ký của ông Bùi Văn K với bà Phạm Thị T vô hiệu.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Bùi Thị Xuân Đ trả cho bà Lê Thị Bé N 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng thay cho bà Dương Thị D (trong tổng số nợ 526.950.000 đồng). Buộc bà Lê Thị Bé N có nghĩa vụ trả lại cho bà Bùi Thị Xuân Đ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 586573, số vào sổ cấp GCN: CH00921 cấp ngày 20/3/2014 đứng tên Nguyễn Thị L đã chuyển nhượng cho bà Bùi Thị Xuân Đ ngày 29/5/2014 (bản gốc).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị D phải chịu 25.359.000 (hai mươi lăm triệu ba trăm năm mươi chín nghìn) đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Bà Lê Thị Bé N được nhận lại 13.173.750 (mười ba triệu một trăm bảy mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi) đồng tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002793 ngày 28/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị Bé N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, chuyển 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0003115 lập ngày 05/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành tiền án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 12/02/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - TAND huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Văn Luông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/DS-PT ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản và nợ hụi

  • Số bản án: 26/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và nợ hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn tổng cộng số tiền nợ vay và nợ hụi 526.950.000 đồng, đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Bùi Thị Xuân Đào cho bà Đào khi bị đơn trả hết nợ cho nguyên đơn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger