|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HS-ST
Ngày 11-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Xuân Thịnh.
Bà Nguyễn Thị Tin.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mông Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hồng Sơn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 và ngày 11 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2025/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2025/QĐXXST-HS ngày 09/12/2025 và Thông báo về việc thay đổi lịch phiên tòa ngày 20/01/2025 đối với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1999; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông: Không xác định được; con bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1977; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đỗ Văn G, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn T, xã T (nay là Tổ dân phố T, phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Chị Hoàng Thị K, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn V, xã T (nay là Tổ dân phố V, phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1999, trú tại thôn V, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang không có nghề nghiệp ổn định. Trước tháng 8/2024, H vay của anh Đỗ Văn G, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã T, thành phố B và làm quản lý, trông coi quán Internet Trường G2 ở tổ dân phố T, phường V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang số tiền 15.000.000 đồng và để lại chiếc điện thoại di động Iphone 15 Pro Max để làm tin. Do không có tiền trả anh G để lấy lại điện thoại nên ngày 14/8/2024, H nảy sinh ý định thuê xe mô tô đem đi thế chấp vay tiền trả anh G lấy lại điện thoại.
Buổi chiều ngày 14/8/2024, H đi đến cửa hàng mua bán, cho thuê xe máy của anh Phạm Công H2, sinh năm 1998 ở thôn N, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để thuê xe (trước đó H đã nhiều lần đến thuê xe tại đây). H bảo anh H2 cho thuê 01 xe mô tô loại xe SH nhưng cửa hàng không có loại xe này. Anh H2 giới thiệu bạn là anh Bùi Văn T, sinh năm 1997, trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang cho H thuê xe mô tô SH150i, biển kiểm soát 23AK-054.33. Trước đó, anh Thủ M chiếc xe này của chị Hoàng Thị K, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang để đi lại hàng ngày. Hai bên thỏa thuận H thuê xe trên từ ngày 14/8/2024 đến ngày 17/8/2024 với giá thuê là 300.000 đồng/ngày. H viết giấy biên nhận thuê xe và được anh T giao cho chiếc xe mô tô SH150i, biển kiểm soát 23AK-054.33. Sau khi thuê được xe, H điều khiển xe đi chơi.
Sáng ngày 15/8/2024, H đi xe đến quán Internet Trường G1 bảo anh G cho vay 30.000.000 đồng để lại xe mô tô 23AK-054.33 và 01 Giấy phép lái xe mô tô của H làm tin, H nói với anh G là xe của H mới mua lại chưa trả hết tiền nên chưa có giấy tờ đăng ký. Sau khi nhận 30.000.000 đồng, H trả nợ anh G 15.000.000 đồng và lấy lại điện thoại Iphone 15 Pro Max, còn lại 15.000.000 đồng H chi tiêu cá nhân hết.
Đến ngày 17/8/2024 hết thời hạn thuê xe nhưng H không có tiền chuộc xe về để trả cho anh Bùi Văn T. Ngày 19/8/2024, anh T đến nhà H yêu cầu trả xe nhưng H không trả được, do sợ H bỏ chạy nên T đã dùng dây giầy trói hai tay H dẫn từ
phòng ngủ xuống dưới tầng 1 thì gặp mẹ của H là bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1977. Sau đó, bà H1 làm đơn trình báo. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, H khai nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt xe mô tô SH150i, biển kiểm soát 23AK-054.33 của anh T; anh T giao nộp 01 giấy thuê xe mô tô đề ngày 14/8/2024 do H viết. Ngày 19/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Y để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 19/8/2024, Bùi Văn T làm đơn gửi Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đề nghị xử lý H về hành vi chiếm đoạt xe mô tô 23AK- 054.33
Ngày 19/8/2024, anh Đỗ Văn G đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Y xe mô tô SH150i, biển kiểm soát 23AK- 054.33 và 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn H.
Kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS, ngày 10/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận:
Xe mô tô biển kiểm soát 23AK-054.33, nhãn hiệu Honda, loại xe SH 150i, màu sơn Xám - Đen, do H chiếm đoạt trị giá 78.300.000 đồng.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Y trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trên giấy thuê xe đề ngày 14/8/2024 do anh T giao nộp.
Kết luận giám định số 2484/KL-KTHS ngày 22/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:
- Chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung “H2 - Phạm Công H2” dưới mục “Người làm chứng” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Phạm Công H2 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M5) là do cùng một người ký, viết ra.
- Chữ viết có nội dung “14-8-2024 - Nguyễn Văn H - V - T - TP B - 024099001115 - 27/4/2021 - C - 14-8-4; chữ ký dạng chữ viết, chữ viết có nội dung “H - Nguyễn Văn H” dưới mục “Người thuê” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M11 đến M15) là do cùng một người ký, viết ra.
- Chữ ký, chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A - trừ các nội dung đã kết luận ở trên) so với chữ ký, chữ viết của Bùi Văn T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M6 đến M10) là do cùng một người ký, viết ra"
Đối với Đỗ Văn G có hành vi nhận thế chấp chiếc xe mô tô 23AK-054.33 SH 150i và cho H vay 30.000.000 đồng. Tuy nhiên, anh G không biết xe mô tô này là do H chiếm đoạt của anh T nên không có căn cứ xử lý về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Đối với Bùi Văn T có hành vi bắt trói Nguyễn Văn H vào ngày 19/8/2024 tại thôn V, xã T, thành phố B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã xử lý Bùi Văn T trong vụ án khác.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị H1 là mẹ của bị cáo H đã bồi thường cho anh G số tiền 30.000.000 đồng, anh G không có yêu cầu đề nghị gì. Anh Bùi Văn T không yêu cầu H bồi thường gì.
Đối với xe mô tô 23AK-054.33 SH 150i, quá trình điều tra làm rõ là tài sản của chị Hoàng Thị K, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang cho Thủ mượn từ trước để đi lại. Ngày 20/10/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chủ sở hữu.
Đối với Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn H được chuyển đến kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang để giải quyết theo quy định.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 25/CT-VKSTP ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn Hiếu về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo H khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản Cáo trạng nêu là đúng, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều, khoản trên là đúng, không oan. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 khai: Bà là mẹ của bị cáo H, bị cáo H đã tác động bà bồi thường cho anh G số tiền 30.000.000 đồng thay cho bị cáo H, Nay, bà không yêu cầu bị cáo H phải hoàn trả lại số tiền bà đã bồi thường cho anh G. Bà xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì.
Qua tranh tụng tại phiên toà, kiểm sát viên phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và đề nghị:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại bị cáo Nguyễn Văn H Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn H.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, HĐXX thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không có vi phạm gì. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại là anh Bùi Văn T, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Văn G, chị Hoàng Thị K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản của Tòa án về thời gian mở phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra, những người này đã có lời khai đầy đủ và được lưu trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị hại là anh Bùi Văn T, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Văn G, chị Hoàng Thị K, chị Đỗ Thị H3 theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3]. Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy đã có đủ cơ sở để kết luận:
Với ý định thuê xe mô tô để đem đi cầm cố lấy tiền ăn tiêu, buổi chiều ngày
14/8/2024, tại thôn N, xã N, huyện Y (nay là phường N, thành phố B), Nguyễn Văn H sinh năm 1999, trú tại thôn V, xã T, thành phố B đã dùng thủ đoạn gian dối là hợp đồng thuê chiếc xe mô tô SH150i biển kiểm soát 23AK-054.33 của anh Bùi Văn T, sinh năm 1997, trú tại thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang với giá thuê 300.000 đồng/ 1 ngày, nói dối là để làm phương tiện đi lại, hẹn đến ngày 17/8/2024 trả xe. Sau khi thuê được xe, H đem xe đến phường V, thị xã V thế chấp cho anh Đỗ Văn G, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang lấy 30.000.000 đồng, dùng trả nợ và ăn tiêu hết. Kết luận định giá xác định trị giá xe mô tô SH150i 23AK-054.33 là 78.300.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu hồi xe mô tô trả lại cho chủ sở hữu.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 25/CT-VKSTP ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Xét tính chất, mức độ của vụ án:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự để đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung đối với loại tội này.
[5]. Xét về nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả; bị cáo đã từng tham gia phục vụ trong Q, bị cáo có ông ngoại là thương binh, bà ngoại được Ủy ban nhân dân tỉnh B trợ cấp một lần đối với cựu thanh niên xung phong nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6]. Về hình phạt:
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân của các bị cáo, trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Bản thân bị cáo có nơi cư trú ổn định, xuất thân từ thành
phần nhân dân lao động, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy, không cần thiết bắt bị cáo chịu hình phạt tù, mà cho hưởng án treo như đề nghị của Viện kiểm sát thì bị cáo cũng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Ngoài ra cũng thể hiện được chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản hoặc nguồn thu nhập nào nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị H1 là mẹ của bị cáo H đã bồi thường cho anh G số tiền 30.000.000 đồng, anh G không có yêu cầu đề nghị gì. Anh Bùi Văn T không yêu cầu H bồi thường gì. Bà Nguyễn Thị H1 không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã bồi thường cho anh G. Do đó, HĐXX không xem xét, giải quyết.
[8]. Các vấn đề khác:
Đối với Đỗ Văn G có hành vi nhận thế chấp chiếc xe mô tô 23AK-054.33 SH 150i và cho H vay 30.000.000 đồng. Tuy nhiên, anh G không biết xe mô tô này là do H chiếm đoạt của anh T nên không có căn cứ xử lý về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là phù hợp.
Đối với Bùi Văn T có hành vi bắt trói Nguyễn Văn H vào ngày 19/8/2024 tại thôn V, xã T, thành phố B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã xử lý Bùi Văn T trong vụ án khác.
[9]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với xe mô tô 23AK-054.33 SH 150i, quá trình điều tra làm rõ là tài sản của chị Hoàng Thị K, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang cho Thủ mượn từ trước để đi lại. Ngày 20/10/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chủ sở hữu là có căn cứ.
Đối với Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn H là giấy tờ cá nhân của Nguyễn Văn H nên trả lại cho Nguyễn Văn H.
[10]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (Hai) năm 6 (S) tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách là 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/02/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại bị cáo Nguyễn Văn H Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn H.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5. Về Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Anh |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
